Hướng đến kỷ niệm 41 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2016), Tạp chí Khoa học thời đại trân trọng giới thiệu ký sự về các tướng lĩnh trong hai cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh của dân tộc, mà cuộc đời và sự nghiệp của họ từng gắn bó với chiến trường trọng điểm miền Đông gian lao và anh dũng, trong đó có Bình Phước. Các ký sự do Nhà thơ, Nhà báo Phan Hoàng thực hiện trong quá trình anh trực tiếp gặp gỡ, phỏng vấn các nhân vật và tập hợp tư liệu.  

Thiếu tướng Tô KýTô Ký là một cá tính tiêu biểu của người Sài Gòn. Trượng nghĩa và hào hiệp, dũng cảm và ngang ngạnh, đa năng và khiêm nhường, nhiệt thành và huỵch toẹt, vô tư và gần gũi, thuỷ chung và linh hoạt. Tô Ký là nhân vật giàu ý tưởng, sống động, để lại trong tôi nhiều ấn tượng khi được tiếp xúc với ông. Mặc dù chỉ mang quân hàm Thiếu tướng nhưng Tô Ký là danh tướng được nhiều người đương thời nể phục và kính trọng, nhất là người dân Mười tám thôn vườn trầu hào khí quê hương mà ông từng được ví là “hùm xám” ở đây từ thời chống Pháp tái xâm lược. Thiếu tướng anh hùng Tô Ký cũng hay đùa mỗi khi tôi thưa… “Tao là Thừa tướng chứ không phải Thiếu tướng”!

Đau đớn nhìn cha bị giặc tra tấn ngay trước mặt

Là con thứ ba trong gia đình nên mọi người hay gọi thân mật Tô Ký là anh Ba, bác Ba, ông Ba hoặc gọi tắt “Ba Tô Ký”. Hễ rảnh rỗi là ông lên xe đi thăm người xưa cảnh cũ, các tướng lĩnh, lính thuộc quyền, và cả những con người và vùng đất mà ông từng gắn bó, đang có đời sống gặp khó khăn. Ông mang tới nụ cười hào sảng, ánh mắt cảm thông và cả vật chất hỗ trợ. Ông cũng thường xuyên về nơi chôn nhau cắt rốn của mình ở Hóc Môn – Bà Điểm, nơi có khu vườn yên tĩnh nhìn ra cánh đồng rộng lớn.

Tô Ký tuổi Mậu Ngọ – 1918, nhưng khai sinh trễ, giấy đề ngày 05 tháng 9 năm 1919. Nhà nghèo, học đến hết tiểu học trường Hóc Môn thì ông phải nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình chăn trâu cày cấy ruộng vườn. Năm mười bốn tuổi, Tô Ký được cha cho theo học chữ Hán thầy Mười Lời (Phạm Văn Lời) mong có chút ít chữ Thánh hiền để làm nghề thầy thuốc. Ông say mê học và tìm sách đọc thêm. Vốn liếng Nho học ấy là nguồn tri thức có ảnh hưởng nhiều tới cách sống và ứng xử của ông sau này, nhất là trong những thời điểm chông gai thử thách. Đồng thời, ông cũng học võ thuật và trở thành một người giỏi võ có hạng, giúp ông tự tin hành xử trong nhiều tình huống éo le, giúp đỡ người yếu đuối hoạn nạn, khuất phục nhiều giang hồ hảo hán.

Khi phong trào cách mạng bùng lên ở quê hương Mười tám thôn vườn trầu, Tô Ký đã tham gia tổ chức Thanh niên Dân chủ, rồi được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông gan góc, hăng hái nên rất được tổ chức tin tưởng. Trong một lần đi phân phát truyền đơn cổ động đấu tranh, Tô Ký bị mật thám Pháp bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn. Bị địch khảo tra đau đớn đến mấy ông cũng nhất quyết không khai báo điều gì. Toà tiểu hình kết án ông một năm tù ở và ba năm đày biệt xứ.

Tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Do điều kiện còn non nớt, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thân sinh của Tô Ký là cụ Tô Nếp cùng hàng trăm đồng chí cách mạng của mình bị kẻ thù bắt xỏ dây kẽm vào lòng bàn tay, đẩy xuống bốn chiếc xà lan, bí mật nhấn chìm lúc nửa đêm trên sông Sài Gòn khúc Xóm Chiếu. Thời khắc tang thương ấy xảy ra vào tháng 5 năm 1941, gây bàng hoàng trong nhân dân.

Lúc người cha thân yêu bị hãm hại cũng là lúc Tô Ký đang bị giam cầm trong nhà tù thực dân, sau một cuộc vượt ngục không thành. Điều làm Tô Ký hết sức đau lòng là trước khi thân phụ bị thủ tiêu, chính ông đã tận mắt chứng kiến cảnh cha mình bị mật thám Pháp tra tấn dã man ở Poste Catinat. Dù bị kẻ thù hành hạ bao nhiêu ông cũng không sờn chí, nhưng khi nhìn thấy cha bị nhục hình lòng ông đau đớn khôn cùng. Ông đã cố nén những giọt nước mắt xót thương và thề trả thù cho đấng sinh thành, nhất là khi hay tin cha bị bức hại.

Những năm tháng trong tù ngục, Tô Ký cũng để lại dấu ấn bằng nhiều huyền thoại. Gan lì, dũng cảm ông không những khuất phục được đám “anh chị” giang hồ trong tù, mà còn luôn đứng ra hứng chịu đòn khảo tra thay cho đồng chí của mình trong các cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù. Những hành động nghĩa khí ấy mãi luôn được truyền tụng! Và cũng từ đó, uy danh Tô Ký dần ngự trị trong tâm khảm người dân Mười tám thôn vườn trầu lẫn cả Nam Bộ như một niềm mến phục, tự hào. Biệt danh “hùm xám” của ông xuất phát từ đó.

Trần Văn Giàu bày mưu, khích tướng Tô Ký xỏ vàm trâu cổ

Sau một thời gian bắt giam Tô Ký ở Poste Catinat tại trung tâm thành phố Sài Gòn, chính quyền thực dân Pháp lại đày ông lên tận căng Tà Lài. Đây là một trại giam mấy trăm tù nhân nằm sâu trong rừng Cát Tiên, bên bờ sông Đồng Nai. Ngục tù cũng là trường học cho những người xả thân vì nghĩa lớn. Người tù trẻ tuổi Tô Ký được gặp gỡ, làm quen khá nhiều bạn tù nổi tiếng có thành phần xuất thân và hệ tư tưởng khác nhau nhưng gặp gỡ nhau ở tinh thần yêu nước.

Bia tưởng niệm nhà ngục Tà Lài nơi tướng Tô Ký cùng các nhà cách mạng từng bị địch giam giữ thời chống Pháp

Tháng 10 năm 1940, Chi bộ Đảng Cộng sản nhà tù Tà Lài quyết định chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy khởi nghĩa hoặc vượt ngục. Muốn kế hoạch thành công cần có sự ủng hộ che chở của bà con người dân tộc Mạ sống quanh vùng. Hàng ngày, họ thường mang gùi mang nỏ và thịt rừng vừa săn được, đôi khi có cả rượu, đi ngang qua nhà tù, giúp cho tù nhân đỡ quạnh hiu. Tuy nhiên, vì không tù nhân nào biết tiếng Mạ nên khó vận động bằng lời, chỉ còn cách thuyết phục bà con bằng hành động cụ thể thật ấn tượng.

Có một gia đình người Mạ ở bên sông nuôi bầy trâu đông đúc khoảng ba mươi con. Để trâu kéo đồ vật được thì bắt buộc phải xỏ vàm qua mũi lúc trâu còn tơ. Vàm trâu như tay lái của xe. Chủ trâu thường lấy thế khép chặt trâu vào chuồng mà xỏ vàm. Còn nếu để trâu lớn từ bốn tuổi trở lên, nhất là trâu đực, thì rất khó xỏ vàm, vì cổ nó quá to, sừng dài nhọn hoắt, mạnh mẽ và dữ tợn, sờ tới mũi là nó húc chết. Trong đàn trâu của nhà người Mạ bên sông có một con trâu cổ to lớn, da đen bóng láng, đôi mắt như hai cục lửa, trông rất hung dữ nhưng chưa thể xỏ vàm, dù chủ trâu đã mời nhiều thợ vàm trâu giàu kinh nghiệm tới xỏ vẫn không thành. Vì vậy, trâu cổ không kéo cày hay đồ vật mà chỉ ăn no ngủ khì, làm hai việc: canh giữ cọp và nhảy cái truyền giống. Vùng này nhiều cọp và trâu cổ từng chém chết một con cọp già nhăm nhe mấy chú trâu nghé phần lớn là con của anh trâu cổ này.

Qua trò chuyện, ông Trần Văn Giàu nghe chủ trâu nói bập bẹ tiếng Việt rằng, nếu trâu cổ được xỏ vàm thì sẽ cho thuê kéo súc gỗ được nhiều tiền. Chủ trâu cũng hứa ai mà xỏ vàm trâu cổ được thì sẽ thưởng một đùi heo rừng và một ché rượu cần. Về lại nhà giam, Trần Văn Giàu hỏi Tô Ký:

– Ê, Ba Ký ơi! Chú mày nói là lớn lên từ cái nghề làm ruộng chăn trâu, vậy có biết xỏ mũi trâu không?

– Chuyện gì chứ cái này dễ như quấn thuốc rê anh Sáu ạ! – Tô Ký trả lời.

– Đừng chủ quan: không phải trâu tơ mà trâu cổ. Dám không? Được không?

Nghe Trần Văn Giàu hỏi tới, Tô Ký đắn đo suy nghĩ một chút rồi nói:

– Lấy thế thì làm được liền.

Bằng kinh nghiệm từng trải, Trần Văn Giàu tiếp tục khích tướng chàng trai trẻ máu nóng Tô Ký:

– Xưa kia Uất Trì Cung tắm ngựa được thì chú mày xỏ vàm trâu cổ được chứ gì. Có biết Uất Trì là ai không?

Tô Ký tự tin:

– Truyện Thuyết Đường chinh đông. Nhiều truyện Tàu khác nữa trong lịch sử Bắc phương tôi thuộc làu làu. Tôi cũng sẽ làm việc “tắm ngựa” cho các anh xem.

Đến hẹn. Bến sông người đông như ngày hội. Trần Văn Giàu khéo léo chỉ đạo bắn tin chuyện xỏ vàm trâu cổ để thu hút cả sếp Tây, lính mã tà và nhiều bà con người Mạ tới coi. Mấy trăm tù nhân cũng có mặt. Theo đề nghị của Tô Ký, chủ trâu lùa hết mấy mươi con trâu ra bến. Nhanh nhẹn và tự tin, Tô Ký xuất hiện như một đấu sĩ sắp lên võ đài, chỉ mặc độc chiếc quần xà lỏn, tay cầm sợi dây mây vót nhọn.

Trần Văn Giàu hồi hộp hỏi:

– Chắc ăn không mầy, Ba Ký?

– Như ba bó một giạ.

Tô Ký cười trả lời Sáu Giàu, rồi dõng dạc hô to:

– Lùa hết trâu xuống sông một lượt!

Cả đàn trâu bị roi quất đít trót trót đã chạy ào xuống sông Đồng Nai. Cầm dây mây nhảy gọn gàng lên lưng từng con trâu, nhanh như cắt Tô Ký đã phóng tới lưng con trâu cổ đang bơi chen chật chội giữa đàn trâu. Hai chân kẹp cổ trâu thật chặt, ông trườn dài thân mình ra phía đầu để nằm giữa hai cặp sừng dài nhọn, tay vươn tới nắm mũi trâu và lấy dây mây nhọn đâm cái sựt, rồi kéo dây thật nhanh buộc chặt vào mang tai trâu. Chân trâu cổ đang bơi chơi vơi giữa dòng nước, lại bị kẹt chặt giữa đàn trâu đông đúc, nên dù tức lồng lộn cũng không thể phản ứng gì được.

Xỏ mũi trâu xong, Tô Ký đứng phắt dậy nhảy lẹ làng qua lưng các con trâu thoắt lên bờ. Mọi thứ diễn ra như xiếc, nhanh gọn và thần tình. Cả bến sông vang dậy tiếng vỗ tay, hò reo hoan hô Tô Ký!

Sếp và lính Tây trố mắt khen Tô Ký mưu cao, gan dày. Còn đồng bào người Mạ thì hết sức khâm phục, từ đó họ càng có nhiều cảm tình với các tù nhân.

Cuộc vượt ngục Tà Lài lịch sử

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Nam Kỳ khởi nghĩa nổ ra và bị dìm trong biển máu. Hung tin bay đến căng Tà Lài. Sau khi kiểm chứng xác thực, Chi bộ Đảng nhà tù do Trần Văn Giàu lãnh đạo đã bãi bỏ kế hoạch khởi nghĩa ở Tà Lài. Họ chuyển sang kế hoạch vượt ngục vào sau Tết Tân Tỵ – 1941.

Đoàn tù vượt ngục lịch sử này gồm tám người. Đứng đầu là ông Trần Văn Giàu, một nhà cách mạng nổi tiếng, từng tốt nghiệp Trường đại học Cộng sản phương Đông của Liên Xô. Kỹ sư Trần Văn Kiệt, còn gọi là Văn, từng học cùng trường với Trần Văn Giàu ở Moskva. Ông Trương Văn Nhâm xuất thân công nhân, Thành uỷ viên Sài Gòn cùng thời với bà Nguyễn Thị Minh Khai. Ông Dương Văn Phúc, tức Dương Quang Đông, một cán bộ kỳ cựu, đã gia nhập Đảng Cộng sản từ năm 1927. Ông Châu Văn Giác từng hoạt động ở Campuchia từ năm 1930. Ông Nguyễn Hoàng Sính (Đức), một cựu Tỉnh uỷ viên Bến Tre rất giỏi nông vận. Ông Nguyễn Công Trung là một cán bộ hoạt động công đoàn thời Mặt trận Dân chủ.Và cuối cùng là thanh niên trẻ tuổi nhất Tô Ký, người nổi danh Tà Lài sau việc xỏ vàm trâu cổ.

Một đêm tối trời đầu tháng 3 năm 1940, như thường lệ ông Trần Văn Giàu đã gặp gỡ uống trà trò chuyện với mấy viên cai đội mới đổi gác trong một căn chòi. Bảy người còn lại thì bí mật ra bờ sông. Chia tay mấy viên cai đội, ông Trần Văn Giàu về nói nhỏ cho ông Tào Tỵ biết về việc vượt ngục và đề nghị ông Tào Tỵ ở lại làm công tác tư tưởng, giữ vững tinh thần cho bạn tù. Mới nghe, ông Tào Tỵ nổi nóng phản ứng, nhưng rồi dần đồng ý chấp hành mệnh lệnh của Chi bộ Đảng. Ông Tào Tỵ còn vào mùng của ông Trần Văn Giàu đắp mền nằm im để đánh lạc hướng sự dòm ngó của lính canh tuần. Đồng thời ông Trần Văn Giàu còn giao cho ông Tào Tỵ một bức thư để sáng hôm sau gửi cho sếp căng của Tây.

Nhờ chiếm được cảm tình của đồng bào người dân tộc Mạ sau vụ Tô Ký xỏ vàm trâu cổ, nên dù bọn cai ngục Pháp treo giải thưởng và ra lệnh cho người Mạ vào rừng tìm bắt tội phạm, nhưng ông cùng các đồng chí của mình vẫn an toàn ẩn náu và trốn thoát khỏi núi rừng Tà Lài.

Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, chính quyền thuộc địa khủng bố trắng. Từ thành thị đến nông thôn liên tục xảy ra bắt bớ, giết chóc. Những quan lại chức sắc thân Pháp ở các vùng nông thôn lợi dụng cơ hội để trả thù riêng, tàn sát những người yêu nước. Máu chảy đầu rơi khắp ruộng đồng sông rạch. Tiếng oán hận vang khắp trời. Vùng Hóc Môn – Bà Điểm quê hương Tô Ký rền rĩ trong tiếng đau thương. Phong trào cách mạng bị thiệt hại nghiêm trọng. Hầu hết những nhà lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản, Xứ uỷ Nam Kỳ, Thành uỷ Sài Gòn – Gia Định đều bị bắt, kết án tử hình và đưa ra trường bắn.

Trước tin dữ thương đau ấy, sau khi vượt ngục Tà Lài ngược về thượng nguồn sông Đồng Nai, đoàn tù chia làm hai nhóm. Một nhóm năm người cải trang chạy về hướng Sài Gòn. Còn nhóm ba người là các ông Trần Văn Giàu, Châu Văn Giác và Tô Ký đã băng rừng trốn lên Đà Lạt, sau mười bảy ngày thì họ đặt chân tới thành phố sương mù cao nguyên, rồi tìm cách về Nam Kỳ để gầy dựng lại cơ sở cách mạng.

Thực dân Pháp ra lệnh truy nã gắt gao những người vượt ngục Tà Lài. Hình ảnh tám tù nhân cộng sản dán khắp nơi. Vì vậy, chẳng bao lâu sau Tô Ký đã bị địch bắt lại và đưa về Sài Gòn giam giữ. Bọn mật thám dùng cực hình khảo tra Tô Ký để truy những bạn tù vượt ngục. Ông bảo mỗi người trốn một nơi nên không thể biết. Ở trong tù ông còn lấy thân mình che chở, đỡ đòn cho những bạn tù chính trị sức khỏe yếu bị địch tra tấn. Vì còn trẻ và chưa giữ vị trí quan trọng nào trong tổ chức nên Tô Ký chỉ bị tòa kêu án sáu tháng tù ngồi, đưa lên giam ở căng Bà Rá.

(Còn nữa)

(Kỳ 2: Dùng truyện cổ thuyết phục lính mã tà giao súng…

Sẽ được đăng vào ngày 26 tháng 4 năm 2016)

PHAN HOÀNG

Leave feedback about this

  • Rating