Khoahocthoidai.vn

Thưc hiện Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XII của Đảng:

Trí thức Bình Phước thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động góp phần thực hiện thành công Đề án của Tỉnh ủy về kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

09:00 | 22/05/2019

Trí thức Bình Phước thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động góp phần thực hiện thành công Đề án của Tỉnh ủy về kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
Ngày 25/10/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Đây là hai nghị quyết có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; nhằm giải quyết tốt việc đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới.

Ngay sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức nghiên cứu, học tập, phổ biến, quán triệt trong toàn Đảng bộ tỉnh nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; nhất là trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh.

Tỉnh ủy đã thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ thư ký, Tổ chính sách, Tổ giúp việc và mời Vụ III, Ban Tổ chức Trung ương tham gia để xây dựng Đề án thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII với sự nghiêm túc, quyết liệt, tập trung trí tuệ cao của tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; sự đóng góp tích cực của các cấp, các ngành, đặc biệt là của đội ngũ trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị. Tỉnh ủy đã hai lần gửi lấy ý kiến các đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng các huyện, thị, Đảng ủy trực thuộc; các sở, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội và các hội. Các ý kiến góp ý được Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án nghiên cứu, giải trình, tiếp thu có chọn lọc. Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật đã góp ý, phản biện Đề án với nhiều ý kiến chất lượng đóng góp cho việc kiện toàn hệ thống chính trị nói chung; đặc biệt là đối với việc kiện toàn tổ chức bộ máy của các hội đặc thù. Nhiều ý kiến phản biện xác đáng, có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn đã được tỉnh nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh sửa nội dung Đề án. Có thể nói từ Đề án này được chuẩn bị một cách công phu, kỹ lưỡng, mang tính thực tiễn rất cao.

Trong quá trình quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết và xây dựng Đề án; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hầu hết đều thấy rõ về sự cần thiết, cấp bách phải thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, kết luận về xây dựng và kiện toàn hệ thống chính trị. Tuy nhiên, kết quả thực hiện còn thấp, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra; thậm chí ở một số ngành, lĩnh vực, địa phương càng sắp xếp bộ máy, biên chế ngày càng tăng; cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn bất cập; chất lượng chưa cao. Chức năng, nhiệm vụ của một số tổ chức còn chồng chéo, trùng lặp, hoạt động chưa hiệu quả. Số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách Nhà nước; nhất là biên chế trong các đơn vị sự nghiệp công lập và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, ấp, tổ dân phố ngày càng nhiều. Thực tiễn tại tỉnh Bình Phước với khoảng gần 30 ngàn công chức, viên chức, hợp đồng theo Nghị định 68 của Chính phủ thì mỗi ngày tỉnh cũng phải chi hơn 7 tỷ đồng tiền lương và phụ cấp. Riêng hội đặc thù và hội quần chúng ở tỉnh Bình Phước phát triển rất nhanh. Toàn tỉnh có 664 hội đặc thù (cấp tỉnh có 13 hội với 89 định xuất; cấp huyện có 87 hội với 132 định xuất; cấp xã có 564 hội). Nhiều hội hoạt động chưa theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự đảm bảo kinh phí hoạt động; còn trông chờ, ỷ lại vào nhà nước; nội dung, phương thức hoạt động chậm đổi mới, hành chính hóa; phụ cấp cho người về hưu giữ chức vụ trong các hội còn bất cập.

Tỉnh ủy xác định mục đích của việc thực hiện Đề án này phải đảm bảo nguyên tắc “bốn giảm, bốn tăng”. Bốn giảm là: giảm trung gian, giảm đầu mối, giảm biên chế, giảm chi thường xuyên từ ngân sách. Bốn tăng là: Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu và chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo phân cấp, phân quyền; tăng cường phân cấp quản lý cán bộ; tăng chất lượng cung cấp dịch vụ phục vụ nhân dân.

Tỉnh ủy yêu cầu quán triệt và nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về việc thực hiện Đề án. Đảm bảo sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng nhằm tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ các khâu hợp nhất, sắp xếp tinh gọn; xây dựng cơ chế vận hành, chính sách, phân cấp quản lý và công tác cán bộ. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện từ tỉnh đến cấp xã. Đặc biệt, cấp trên phải gương mẫu, cấp dưới phải chủ động thực hiện; đảm bảo dân chủ, công khai, nghiêm túc, khẩn trương. Đồng thời phải làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị gắn với công tác cán bộ; thường xuyên kiểm tra, giám sát và sơ, tổng kết để rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện.

Về nguyên tắc sắp xếp, Ban Thường vụ cấp ủy các cấp quản lý toàn diện về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và công tác cán bộ. Việc thiết kế bộ máy phải phù hợp, xây dựng quy chế làm việc, quy định về phân cấp, phân quyền, giao nhiệm vụ rõ và cụ thể. Chú trọng công tác tuyển chọn, bố trí cán bộ, thực sự coi con người là trung tâm. Việc gì rõ thì làm ngay, việc chưa rõ còn có ý kiến khác nhau hoặc chưa có quy định nhưng thực tế đòi hỏi thì vừa làm thí điểm vừa rút kinh nghiệm từng bước hoàn thiện, không cầu toàn, nóng vội. (Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chọn 5 đơn vị làm điểm là huyện Lộc Ninh, huyện Phú Riềng, thị xã Phước Long, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Y tế để làm điểm). Hợp nhất và sắp xếp lại phải được thực hiện khi có đủ điều kiện về nhân sự và chính sách bảo đảm; đạt yêu cầu về chất lượng và ổn định lâu dài; đồng thời giải quyết chế độ cho cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo đúng quy định, đảm vảo lợi ích hợp pháp của người lao động. Các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được sắp xếp theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, tinh gọn, hợp lý; không trùng lắp chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; đảm bảo tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.

Để khắc phục tình trạng có quá nhiều lãnh đạo trong các đơn vị trực thuộc tại các cơ quan hành chính, Đề án quy định: đủ 10 biên chế trở lên bố trí 1 cấp trưởng và không quá 2 cấp phó. Từ 5 đến 9 biên chế chỉ được bố trí 1 cấp trưởng, 1 cấp phó. Phòng dưới 5 biên chế chỉ được bố trí 1 trưởng phòng, không bố trí phó phòng. Đối với các đơn vị sự nghiệp thì tỷ lệ cán bộ lãnh đạo không quá 35% so với tổng số cán bộ, viên chức. Thực hiện nghiêm nguyên tắc cùng nhóm nhiệm vụ chỉ có một đơn vị thực hiện; không nhất thiết tách chức năng quản lý thành cơ quan riêng. Nhiệm vụ nào doanh nghiệp hoặc thành phần kinh tế khác thực hiện được thì từng bước chuyển giao hoặc thực hiện xã hội hóa. Đơn vị nào hoạt động hiệu quả thấp, xem xét không cần thiết thì sẽ giải thể. Phân loại lĩnh vực dịch vụ phải chuyển sang đấu thầu, nhóm dịch vụ nào cần nhà nước hỗ trợ duy trì, nhóm dịch vụ nào do Nhà nước đảm bảo toàn bộ và nhóm dịch vụ nào mang tính chất đặc thù chuyên ngành.

Tỉnh ủy xác định phương án sắp xếp cho tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp xã. Trong đó nhất thể hóa một số chức danh cấp trưởng để “Đảng hóa thân vào Nhà nước”; nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và tránh trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Hợp nhất, sắp xếp lại tất cả các đầu mối bên trong của các sở, ban, ngành, mặt trận, đoàn thể các cấp.

Đối với các hội đặc thù, tỉnh Bình Phước thực hiện theo quy định về hội và Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao. Đối với Tạp chí Khoa học thời đại và Tạp chí Văn nghệ từ năm 2020 phải tự chủ 50% kinh phí hoạt động. Tỉnh cũng xác định rõ việc đảm bảo chế độ đối với các đối tượng chịu tác động của Đề án như chính sách về hưu trước tuổi, chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, chính sách thôi việc ngay và thôi việc sau khi học nghề; chính sách đối với người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ khác có phụ cấp chức vụ thấp hơp do sắp xếp tổ chức.

Một số chính sách khác như chính sách nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã; hỗ trợ đối với đối tượng phải bồi dưỡng, đào tạo lại; phân bổ định mức kinh phí chi thường xuyên đối với cán bộ, công chức cấp xã; nâng lương trước thời hạn đối với cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm cũng được định hướng và quy định rõ ràng trong Đề án.

Việc thực hiện Đề án thành công sẽ giúp cho tỉnh Bình Phước giảm được 57 cơ quan hành chính, 107 đơn vị sự nghiệp, 180 cấp trưởng, 280 cấp phó, 150 trưởng phòng và 250 phó phòng của cơ quan cấp tỉnh. Đề án thể hiện bước đổi mới quan trọng trong công tác tổ chức, thể hiện quyết tâm của Đảng bộ tỉnh trong đổi mới tư duy, khắc phục được những yếu kém trong tổ chức bộ máy từ tỉnh đến cơ sở. Tỉnh sẽ tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng mỗi năm trong chi thường xuyên để chi cho an sinh xã hội, đầu tư phát triển, đầu tư cho con người, an ninh quốc phòng... Đồng thời chất lượng dịch vụ phục vụ nhân dân sẽ tốt hơn; tạo được sự công bằng, cạnh tranh lành mạnh trong công việc, khuyến khích được cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao.

Điều chắc chắn là việc thực hiện Đề án sẽ mang lại những kết quả rất tích cực về chính trị, kinh tế, xã hội. Đề án có hàng trăm ý kiến tham gia góp ý dân chủ, trí tuệ, vừa thể hiện sự quan tâm, vừa có sự lo lắng, trăn trở áp lực về tổ chức bộ máy. Đó cũng là điều bình thường bởi khi thực hiện Đề án sẽ có tác động trực tiếp đến con người và tổ chức bộ máy. Vấn đề là mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết 19-NQ/TW, Đề án 999 của Tỉnh ủy; tự soi vào tổ chức bộ máy của mình, vượt qua tư duy cũ, cách làm cũ; làm thật tốt công tác tư tưởng, thông suốt và thực hiện nghiêm túc. Đề án 999 của Tỉnh ủy có những cách làm mới, có nhiều nội dung không phù hợp với một số quy định mang tính phổ biến của Đảng, Nhà nước nhưng trên tinh thần đổi mới, hợp lý, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả thì quan điểm của Tỉnh ủy là cái gì rõ, lợi cho tổ chức bộ máy, lợi cho dân thì làm ngay, không chần chừ, do dự. Quá trình xây dựng Đề án, Tỉnh ủy đã được Trung ương ủng hộ và tỉnh mạnh dạn làm. Mặt khác, thực hiện Đề án có lộ trình, không phải tất cả đều làm ngay, có việc làm ngay, có việc làm thí điểm, có việc đến năm 2020 mới có điều kiện làm.

Có thể nói Đề án 999 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết 19-NQ/TW có nhiều vấn đề lớn liên quan đến tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị toàn tỉnh. Quá trình xây dựng Đề án, tỉnh đã phát huy dân chủ, trí tuệ của các cấp, các ngành, của đông đảo đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị. Việc thực hiện Đề án càng đòi hỏi sự nghiêm túc, trách nhiệm cao của từng cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, hội các cấp và từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đặc biệt là đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị - lực lượng nòng cốt trong xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án. Sự quyết tâm, đồng lòng, đoàn kết, thống nhất, sẽ tạo được ý chí và hành động quyết liệt trong thực hiện Đề án để xây dựng hệ thống chính trị ở tỉnh Bình Phước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; góp phần tích cực vào việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: