Khoahocthoidai.vn

Quá trình hình thành và một số đặc điểm của trí thức Bình Phước

07:00 | 03/11/2017

Quá trình hình thành và một số đặc điểm của trí thức Bình Phước
1. Quá trình hình thành đội ngũ trí thức tỉnh Bình Phước
Trong lịch sử xã hội Việt Nam đặc điểm nổi bật về sự hình thành các giai cấp, tầng lớp là sự ra đời của giai cấp nông dân rồi mới đến tầng lớp trí thức, giai cấp công nhân và sau cùng là giai cấp tư sản. Nguồn gốc hình thành của đội ngũ trí thức Bình Phước không nằm ngoài đặc điểm chung của cả nước. Tuy nhiên, với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, quá trình hình thành đội ngũ trí thức tỉnh Bình Phước có những đặc điểm riêng nhất định.
Đại biểu trí thức Bình Phước đóng góp ý kiến  xây dựng các văn bản luật

Dân cư Bình Phước được hình thành từ trên 300 năm qua với những cư dân đầu tiên là đồng bào dân tộc thiểu số S’tiêng, Châu Ro, Mnông,… Từ thế kỷ XVI đến nay, dân cư Bình Phước có các đợt nhập cư lớn vào tỉnh. Đó là cuộc di dân các tỉnh miền Trung (vùng Ngũ Quảng) vào khẩn hoang từ thời kỳ các chúa Nguyễn. Người Hoa và người Khmer cũng du nhập, định cư đầu tiên ở vùng Nha Bích. Các đợt mộ phu cao su từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào các đồn điền cao su ở Bình Phước đầu thế kỷ XX. Cuộc vận động dân từ các tỉnh, thành đi xây dựng vùng kinh tế mới sau 30/4/1975. Các đợt hồi hương của Việt kiều Campuchia về lập nghiệp ở tỉnh. Đồng bào các tỉnh, thành di cư tự do đến Bình Phước lập nghiệp, định canh, định cư cũng làm gia tăng nhanh chóng dân số của Bình Phước. Theo tư liệu nghiên cứu lịch sử, bốn huyện phía bắc của tỉnh Sông Bé cũ thuộc địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay là nơi dân số biến động mạnh nhất. Dân số ở đây được cấu thành do nhiều lớp dân cư ở nhiều nguồn khác nhau quy tụ về.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều trí thức yêu nước ở miền Nam, trí thức được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tham gia kháng chiến; sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã ở lại Bình Phước lao động, công tác, sản xuất. Cùng với việc phát triển nhanh vùng cây công nghiệp cao su, cây lâm nghiệp, sự gia tăng dân số cơ học ở tỉnh Sông Bé cũ (gồm Bình Dương và Bình Phước) càng nhanh chóng. Có lúc có tới 30.000 người đến lập nghiệp ở tỉnh trong một quý. Đây là đặc điểm nổi bật trong cấu trúc dân số và sự phân bố dân cư của tỉnh Bình Phước… Cũng như đồng bào Kinh, do tác động của chế độ phong kiến và chủ nghĩa thực dân, trải qua hàng trăm năm chiến tranh chống xâm lược, dân số các dân tộc ít người bị biến động mạnh, kể cả biến động cơ học và biến động tự nhiên, trong đó dân tộc S’tiêng biến động nhiều nhất vì đây là dân tộc có dân số đông nhất, chiếm gần 2/3 dân số các dân tộc ít người ở tỉnh Sông Bé (cũ).

Khi tỉnh Bình Phước được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1997, dân số tỉnh Bình Phước có 653.926 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 102.107 người. Sau 20 năm tái lập tỉnh, dân số Bình Phước đến nay có 956.449 người với 41 thành phần dân tộc. Số lượng trí thức của tỉnh là 28.867/956.449 người, chiếm gần 3% tổng dân số toàn tỉnh, trong đó bao gồm cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện, xã; lực lượng vũ trang và trí thức hoạt động trong các doanh nghiệp.

Trên nền cư dân phong phú và đa dạng nêu trên, đội ngũ trí thức tỉnh Bình Phước đã được hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau và xuất thân từ khắp các vùng, miền của Tổ quốc. Hầu hết trí thức Bình Phước được hình thành từ nông dân, công nhân; cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và lao động trong các doanh nghiệp 

2. Một số đặc điểm của trí thức Bình Phước

Trí thức Bình Phước có những đặc trưng chung của trí thức Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, gần gũi và hòa mình với nhân dân, gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Tinh thần yêu nước và trách nhiệm của trí thức thể hiện rõ trong từng việc làm và kết quả đóng góp chung cho sự nghiệp xây dựng, phát triển địa phương, trong công cuộc xây dựng đất nước. Mỗi giai đoạn cách mạng đặc điểm đó có sự biểu hiện khác nhau, nhưng tất cả đều lắng đọng trong tình cảm và trí tuệ của mỗi trí thức đối với Bình Phước - vùng đất giàu truyền thống cách mạng.

Về đặc điểm cơ cấu dân tộc

Tính đến nay, toàn tỉnh có 41 dân tộc anh em. Dân tộc thiểu số chiếm trên 20% dân số. Trong đó có các dân tộc có số dân trên 1.000 người gồm dân tộc Kinh, S’tiêng, Tày, Nùng, Khmer, Hoa, Mnông, Dao, Mường và dân tộc Thái.

Dân tộc Kinh cư trú ở tất cả các huyện, thị; dân tộc S’tiêng tập trung nhiều ở các huyện Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, Lộc Ninh, Chơn Thành và Bù Đốp. Dân tộc Khmer tập trung nhiều ở thị xã Đồng Xoài; các huyện Lộc Ninh, Đồng Phú và Chơn Thành; dân tộc Nùng tập trung nhiều ở huyện Bù Đăng, Đồng Phú, Bù Đốp, Phước Long, thị xã Đồng Xoài; dân tộc Dao tập trung ở huyện Bù Đăng; dân tộc Mnông tập trung ở huyện Bù Đăng, huyện Phước Long; dân tộc Tày tập trung ở các huyện Bù Đăng, Đồng Phú, Phước Long, Bù Đốp và thị xã Đồng Xoài…

Đặc điểm cơ cấu dân tộc nêu trên đã tác động, chi phối đến đặc điểm cơ cấu dân tộc, vùng miền trong đội ngũ trí thức tỉnh Bình Phước.

Về năng lực, phẩm chất

Đội ngũ trí thức tỉnh đa số có năng lực hoạt động thực tiễn, đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, nổi bật là công tác phổ biến tri thức khoa học kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đời sống. Chất lượng đội ngũ trí thức, nhất là trí thức trong hệ thống chính trị được nâng lên, từng bước chuẩn hóa theo hướng nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh của tỉnh. Về phẩm chất, nhân cách, hầu hết đội ngũ trí thức trong tỉnh có phẩm chất đạo đức tốt, cống hiến phục vụ hết mình cho sự phát triển chung của tỉnh.

Có thể nói hầu hết trí thức Bình Phước cần cù, chịu khó, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; có nghị lực vượt qua khó khăn, thử thách, gian khổ; có ý chí vươn lên, nỗ lực tự nâng cao trình độ và hoàn thiện nhân cách, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu về vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ đối với địa phương, đất nước, dân tộc. Tích cực tham gia nghiên cứu, sáng tạo, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn; có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ; có lòng tự trọng, khát vọng tự do, dân chủ, công bằng. Có trình độ chuyên môn trên các lĩnh vực và hoàn thiện không ngừng thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh cũng như con đường tự học, tự rèn, lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân.

In bản tin

Các bài cũ hơn: