Khoahocthoidai.vn

NƯỚC NGA-MÙA THU

09:10 | 15/11/2017

NƯỚC NGA-MÙA THU
KỶ NIỆM LIÊN XÔ
          Năm 1968, từ mặt trận Khe Sanh về, tôi được cử tham gia đoàn đại biểu Thanh niên Giải phóng miền Nam đi dự đại hội Thanh niên sinh viên Thế giới lần thứ 9 ở Sophia (Bungari). 

Đây là lần đầu tiên Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cử một đoàn đông như vậy, hơn 80 người, có cả đoàn văn công giải phóng tháp tùng đi dự đại hội quốc tế. Những năm ấy do ảnh hưởng cách mạng văn hóa ở Trung Quốc nên đường sắt liên vận quốc tế không đi được. Liên Xô đưa 1 con tàu chở khách lớn sang Hải Phòng đón ba đoàn Lào, Việt Nam dân chủ cộng hòa (miền Bắc) và đoàn của Mặt trận dân tộc giải phóng. Cả 3 đoàn lên đến 250 người. Tất cả chúng tôi lên con tàu du lịch màu trắng mang tên Tuyết-mê-ni-a. Tàu cao 3 tầng, có nhà hàng, hồ bơi như một khách sạn 5 sao. Hai đoàn Việt Nam với sự có mặt của đại biểu thanh niên sinh viên, các anh hùng dũng sĩ của các vùng miền. Trong đó có các anh hùng: Thái Văn A (chiến sĩ đảo Cồn Cỏ), Nguyễn Thị Kim Huế (Bình Trị Thiên), Huỳnh Thúc Bá (Quảng Nam).

          Sau 8 ngày vượt qua biển Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên, tàu cặp bến ở Cảng Vladivostok ở cực đông Liên Xô. Chúng tôi được đặt chân lên đất nước Xô Viết từ thành phố này. Từ đây một đoàn tàu lửa 12 toa dành riêng cho đoàn miền Nam, tất cả đều là toa 2 giường nằm. Đoàn tàu xuyên Sibéria đưa chúng tôi về Moscow. Tháng 8 mùa thu nắng đẹp. Chúng tôi dừng chân ở nhiều thành phố: Khabarop, Baikal, Irkutsk, Novosibirs... kể cả các ga nhỏ tàu cũng dừng và dù là 2-3 giờ sáng ở sân ga vẫn có Thanh niên và cả các cụ già chờ đón tặng hoa cho chúng tôi, nồng nhiệt, dồn dập nồng nhiệt. Đoàn chúng tôi phải phân công nhau trực và chỉnh tề trang phục quân giải phóng miền Nam xuống đáp từ, nhận hoa. Các bạn thanh niên và nhân dân miền Siberia đã dành cho chúng tôi những tình cảm vô cùng nồng ấm và chính họ đã làm cho niềm tự hào trong mỗi chúng tôi trào dâng mãnh liệt cùng với niềm vinh dự to lớn khi được làm người chiến sĩ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Một cụ bà nói với tôi: “Mẹ ở xa, cách đây 100 cây số, mẹ đến đây từ chiều để chờ các con, mẹ đón các con từ Mặt trận trở về mà”. Bà cảm động ôm hôn từng chúng tôi và nói: “ Mẹ tự hào vì các con đã và đang thắng thằng đế quốc to nhất nhân loại”. Những ngày ở Khabarop chúng tôi được đi thăm và tắm sông Amour (sông tình yêu). Amour với thượng nguồn là sông Orion đã trở nên dòng sông dài thứ 2 ở Liên Xô với gần 4.500km đổ ra biển Thái Bình Dương. Nhạc sĩ Xuân Hồng khoác tay tôi và nói: “Giống sông Cửu Long ở Nam Bộ mình quá”. Chúng tôi đến Ulan-ude trời trở lạnh, cơn gió lạnh kèm mưa. Các bạn thanh niên Komsomon đón chúng tôi trong khí thế hừng hực của tuổi trẻ và nồng nàn tình hữu nghị. Họ công kênh chúng tôi, hát, múa thâu đêm. Chúng tôi không chuẩn bị đồ lạnh, nên ai cũng run lên, nhưng các bạn Thanh niên đã đốt lò sưởi cùng chúng tôi nhảy múa, ăn bánh mì với bơ và uống sữa ngựa. Các bạn thanh niên Liên Xô cho biết nếu vào mùa đông nhiệt độ ở đây có lúc xuống đến 45 độ âm, vô cùng giá rét, đúng là Xi-bê-ri băng giá. Tình cảm hữu nghị đặc biệt sôi bỏng của các bạn đã làm cho chúng tôi ấm lên. Sau đêm đó chúng tôi được dừng lại ở hồ Baikal ở phía Nam Sibéria, đây là hồ lớn nhất Liên Xô và có dung lượng 1/5 nước ngọt trên địa cầu, có nơi sâu hơn 1600m, là hồ nước ngọt có độ sâu nhất thế giới. Chúng tôi dừng chân bên nhà máy thủy điện do ngăn sông Akara đổ vào hồ Baikal, cũng là một trong những thủy diện lớn đầu tiên của Liên Xô. Chúng tôi dạo bước bên bờ hồ Baikal, sương mù như một tấm voan khổng lồ phủ nhẹ lên mặt hồ tạo nên bức tranh thủy mạc trữ tình. Một lúc sau đó, nắng đẩy nhẹ tấm voan sương mù để mặt hồ trong xanh hiện ra. Rừng bạch dương in bóng xuống mặt hồ như những hàng quân chỉnh tề ra trận- nước hồ Baikal trong suốt như pha lê, người ta đi thuyền có thể nhìn sâu đến 40-50m. Xa xa, dưới gốc những cây bạch dương vài người ngồi câu cá. Mùa đông tuyết ở đây phủ dày 4-5m. Mặt hồ đóng một lớp băng nhưng vẫn còn những lỗ trống do độ ấm của nước bốc lên. Người ta câu cá,và những con cá câu được họ bỏ vào 1 hầm đào dưới tuyết, cho muối vào đó để chôn cá. Sau 1 ngày, cá chín tự nhiên- đem treo lên, không cần nắng, gió hanh khô, đó là cá khô Attrakhan, người Nga nhà nào cũng có để nhấm với rượu vodka hoặc với bia Baltika của Nga. Cá đã chín do đá lạnh và muối nên không phải nướng, chỉ bóc vảy là có ngay mồi nhậu, vị thịt ngọt và béo của cá không bị biến chất, muối làm cho thịt cá đậm đà thêm.

          Chúng tôi đã sống trên 3 tuần lễ lưu động, vượt 10 kinh độ địa cầu ở phía vĩ tuyến 50o gần biển Bắc Băng Dương cao hơn Việt Nam đến 25 vĩ độ. Con tàu đưa chúng tôi từ Đông đến Tây Sibéria với những lãnh nguyên, thảo nguyên bao la, vượt qua những rừng bạch dương đang vào thu đổ lá vàng. Chúng tôi về đến Moscow cũng trong tình cảm nồng cháy của thanh niên Liên Xô và từ Moscow con tàu lại đưa đoàn Việt Nam tiến về Bungari. Tôi được phân công cùng với anh Lê Phương và Đặng Hùng bay trước đến Sophia để làm tiền trạm. Lần đầu tiên đến Liên Xô đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc về tình cảm của nhân dân Liên Xô đối với Việt Nam. Sau này trong công tác, cũng như học tập tôi đã nhiều lần ghé lại Liên Xô, ghé lại Moscow, có những lần về Đa-cha khu nghỉ cuối tuần chờ đoàn công tác sang đi tiếp. Rãnh rỗi chúng tôi rảo hết Moscow…nhưng những kỷ niệm đầu tiên là rất sâu đậm và khó quên.

          Ngày nay Liên Xô không còn nữa, một nhà văn nước ngoài đã viết tác phẩm với tên là “Tế Liên Xô”. Với tôi, tôi vẫn thấy một Liên Xô vẫn còn nguyên trong lòng người dân Nga ngày nay, nhất là lớp lớn tuổi vẫn một tình cảm trước sau với Việt Nam, vẫn một ý chí vì dân tộc Nga hùng cường. Tôi biết rằng trong ngăn kéo của Tổng thống Putin tấm thẻ đảng viên cộng sản Liên Xô vẫn còn đó như một kỷ niệm của một thời lịch sử đáng nhớ. Những gì nước Nga đang làm hôm nay phải chăng là đi trên cái nền tảng oai hùng và truyền thống cao đẹp đó. Tôi gặp lại đồng chí V. Glazunov, thời Liên Xô ông là Trưởng ban chi viện Việt Nam của Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, gặp lại đồng chí Victor Petrorop, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Á Phi về sau là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô… Chúng tôi cùng nhau chọn loại rượu Beluga bạch kim là loại ngon nhất để uống vì tình hữu nghị vĩnh cửu của hai nước và nhớ lại những ngày của 30-40 năm về trước. Những ngày ấy Việt Nam cần gì, miền Nam cần gì? Từ loại súng tầm ngắn đến tên lửa tầm cao, xe tăng, máy bay và quân trang, thuốc men, lương thực Liên Xô đều sẵn sàng cho chiến trường. Liên Xô cử nhiều sĩ quan làm chuyên gia giúp quân ta sử dụng các loại khí tài hiện đại của Liên Xô viện trợ. Liên Xô không chỉ sẵn sàng giúp ta chiến thắng ở chiến trường, ở Mặt trận ngoại giao mà còn giúp miền Bắc xây dựng và phát triển. Chủ tịch Hội hữu nghị Nga-Việt hôm nay nguyên là một chuyên gia điện đã có mặt ở thủy điện Hòa Bình, ở nhiệt điện Uông Bí.

          Đồng chí Glazunov nói với chúng tôi bằng tiếng Việt: “Với nền tảng đã có từ Liên Xô, tôi nghĩ rằng 2 nước Nga và Việt Nam sẽ làm nên nhiều kỳ tích trong hợp tác toàn diện với nhau. Tôi mong lớp trẻ hai nước hiểu và gìn giữ, phát triển tình cảm cao đẹp này".

***

MOSCOW, MÙA THU VÀNG

          Moscow, chúng tôi vẫn quen gọi là Mạc-Tư-Khoa. Tôi đã đến Moscow không còn nhớ là bao nhiêu lần, có những lần giữa mùa đông tuyết phủ, phủ trên nóc nhà, trên đường, chúng tôi đứng giữa Hồng trường tuyết dày đến mấy mươi phân và cả những mùa xuân với những cây bạch dương, cây sồi nẩy lộc và hoa muôn sắc ở các công viên. Nhưng có lẽ khó quên khi đến Moscow giữa mùa thu, tôi vẫn quen gọi là mùa thu vàng,vì mùa này rừng bạch dương Nga lá ngã màu vàng thẫm. Ở Nga dù là vùng nào cũng có bạch dương, loài cây vỏ trắng đứng thẳng, đến mùa thu lá ngã vàng và rụng chỉ còn trơ cành chịu đựng giá tuyết và sang xuân lại đâm chồi nẩy lộc. Cả một con đường lên đồi Lênin cây bạch dương đứng thong dong vàng rực, lá vàng bay lảng đảng như những nốt nhạc trong bản hồ thiên nga của Traicopsky, như những lời thơ của Pushkin. Lá phủ cả nền đường vàng ánh, tôi bước từng bước trong con đường bạch dương vàng rực ấy và nhớ đến “Tiếng thu” của người bạn già quá cố, nhà thơ Lưu Trọng Lư:

                    “ Em không nghe rừng thu

                      Lá thu kêu xào xạc

                      Con nai vàng ngơ ngác

                      Đạp trên lá vàng khô”

          Gió mùa thu của Moscow cũng nhẹ nhàng từ tốn như làm tăng thêm nét êm đềm của mùa thu vàng, gió chỉ nhẹ nâng những chiếc lá vàng bay, bay; gió mát nhẹ phả vào mặt lữ khách như sự mơn man của tình yêu. Họa sĩ tài ba của Nga I.Levitan đã vẽ nên bức tranh tuyệt tác “mùa thu vàng”. Nhưng xem ra bức tranh đang trước mặt tôi, những lá vàng rơi lát đát thành thảm vàng trên đường và trên cây tầng cao, tầng thấp lá vàng nhiều sắc, một bức tranh không gian ba chiều mà chiều đứng thẳng đã nâng và đưa tâm hồn con người bay bổng. Bức tranh thiên nhiên mùa thu vàng trên đồi Lênin vẫn huyền dịu hơn cả.

          Tôi đi giữa những người bán hàng ở đồi Lênin, họ bán những đồ lưu niệm như muốn gợi lại với du khách một quá khứ Xô Viết: nào là quốc huy, huy hiệu, quân hiệu, cả quần áo, mũ lính hồng quân, nhất là kiểu mũ mà PavenCoocsaghin (trong Thép đã tôi thế đấy) đã đội. Trên các bình, các con Matreshka mà bên trong có những con nhỏ dần đến 12-16 con, có in cả hình Lênin và Stalin, và cả Putin. Đi giữa thu vàng Moscow, đón gió thu nhè nhẹ mà như ngồi giữa một Opera để nghe bản hòa tấu về một nước Nga vĩ đại.

          Moscow, một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Tôi đã đi đủ năm châu : Mỹ, Âu, Á, Phi, Úc, đã đến hầu hết các thành phố tên tuổi của thế giới và có thể nói rằng Moscow là thủ đô đẹp nhất. Moscow là lãnh thổ tiếp giáp giữa Á và Âu, là nơi khởi nguồn phát triển của nước Nga. Đầu thế kỷ thứ X ở đây chỉ là một thị trấn của công quốc Vladimir. Đến năm 1301 Moscow trở thành một công quốc độc lập, nhưng sau đó bị cai trị bởi đế quốc Mông Cổ. Mãi đến thế kỷ XVI, Moscow mới có bộ máy chính quyền và quân đội để cai quản và phát triển. Moscow trở thành thủ đô của Liên Xô, của nước Nga có diện tích bằng 1/9 diện tích của thế giới, lớn nhất thế giới.

          Moscow đẹp bởi dòng sông Moscow uốn lượn, được các triều đại qui hoạch và đào nối những dòng kênh để thoát nước và làm hệ thống giao thông đầu tiên. Hệ thống sông ngòi cùng với hệ thống Metro- tàu điện ngầm là mạch giao thông lý tưởng của thành phố này. Hệ thống Metro Moscow với 170 nhà ga, mỗi ga một kiểu và đều lộng lẫy nguy nga như những cung điện tráng lệ, đã tạo thành cuộc sống náo nhiệt khác dưới lòng đất.

        Ở Moscow kể về những công trình xây dựng thì rất nhiều nơi đáng nói, nhưng có lẻ phải nói trước tiên là điện Kremlin, Kremlin có nghĩa là thành nội. Ngày nay Kremlin vẫn là nơi làm việc của Tổng thống như các triều đại xưa nhưng nó còn có khu cho khách thăm quan, là nhà bảo tàng lớn của nhân loại, bởi vì nó lưu giữ nhiều biểu tượng và kỷ vật vô giá của các triều đại Nga Hoàng, của cách mạng Xô Viết, nơi Lênin, Stalin và các lãnh tự Xô Viết làm việc hơn ba phần tư thế kỷ. Kremlin với tháp Spasskaya được kiến trúc sư Pietro Antonio Solari xây dựng năm 1491 với những quả chuông đồng được đúc từ thế kỷ XVI, cùng với 19 ngọn tháp khác tạo nên quần thể cung điện uy nghi. Kremlin được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Tháp Spasskaya có đồng hồ 4 mặt óng ánh kim và chữ số màu vàng cao nhất Kremlin như được cao thêm bởi ngôi sao 5 cánh làm bằng đá cẩm thạch đỏ tím do chính Stalin cho lắp đặt, tháp Spasskaya luôn là biểu tượng của những ngôi sao sáng của thế giới mà không có gì sánh nổi. Ở Moscow có những tòa nhà được xây dựng có tầm cao, phía trên là một ngọn tháp chọc thẳng lên trời, người Nga gọi đó là mô-đen Stalin. Sau khi chiến thắng phát xít Đức (thế chiến thứ 2) Stalin cho xây dựng 40 công trình để kỷ niệm, nhưng tiếc rằng chỉ mới hoàn thành 7 công trình thì Stalin qua đời. Bảy công trình đó ngày nay vẫn còn uy nghi sừng sững có thể kể đến như: khách sạn Ukraina, trụ sở Bộ ngoại giao, Bộ hải quân và Trường đại học Lomonosov đồ sộ nhất Liên Xô. Thời gian trôi qua ba phần tư thế kỷ, bao ngôi nhà chọc trời với các mô-đen tân tiến mọc lên ở Moscow, nhưng những tháp cao trên đỉnh với ngôi sao bằng đá cẩm thạch màu đỏ tím vẫn toát lên sức mạnh, tầm cao, nó biểu hiện ý chí thượng phong, vô địch. Trường đại học Lomonosov vẫn là công trình mang dấu ấn lịch sử được mọi người yêu thích, dù là mùa đông tuyết rơi hay đêm hè thanh lịch, tháp chính của trường vẫn sừng sững, diễm lệ soi bóng xuống hồ với hệ thống đèn màu rực rỡ luôn là hình ảnh in đậm vào lòng người tứ phương. Tôi đã đi giữa mùa thu vàng trên đồi Lênin, ngắm nhìn tháp chính của đại học Lomonosov và ăn những trái táo xanh có vị chua chua ngọt ngọt hái bên đường để suy gẫm về một công trình đồ sộ. Đại học Lomonosov được xây dựng từ năm 1755, đến thời Stalin được mở rộng và trở thành trường lớn nhất của thời Liên Xô, mặt trước là tòa nhà tháp trên đỉnh có ngôi sao 5 cánh rực rỡ. Trường có trên 6.500 phòng học và ở, người ta tính một đứa bé sinh ra cứ mỗi ngày ở 1 phòng, khi ra khỏi phòng cuối cùng của trường sẽ là một thanh niên 18 tuổi. Nhiều cán bộ Việt Nam đã học tập và trưởng thành từ ngôi trường này. Phải thấy rằng Liên Xô trước đây và nước Nga ngày nay luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và quý trọng trí thức. Một người viết văn khi trở thành hội viên hội Nhà văn Liên Xô sẽ được nhiều đãi ngộ. Những nghệ sĩ công huân hoặc được giải thưởng nhà nước đều được ưu đãi. Trụ sở làm việc của các cơ quan khoa học, văn học nghệ thuật đều khang trang lộng lẫy. Trên đường phố dù to hay nhỏ các nhà văn, nhà thơ có tên tuổi luôn được dựng tượng, được ghi dấu tích lúc sinh thời mà tiêu biểu như Maiacopxki, Pushkin, Gorki, NikolaiOstrovsky, Lep Tonxtoi…Lênin rất quý trọng tri thức, ông từng nói:“Không có sách thì không có tri thức", mà không có tri thức thì loài người không tiến lên được.

          Rất nhiều lần tôi đến Hồng Trường, vào viếng Lênin, có khi chỉ đứng để ngắm lăng mộ. Lăng không to lắm nhưng uy nghi, trầm tư. Lăng Lênin xây dựng năm 1930 trên cơ sở lăng mộ làm theo hình kim tự tháp ba tầng xây từ sau khi Lênin mất. Lăng mộ do kiến trúc sư Alexey ViktorovichShchusev thiết kế ốp bằng đá granit đỏ thẩm xen với đá đen tạo nên sự u buồn tiếc thương. Tên của Lênin cũng được khắc bằng đá Pocfia đỏ trên nền đá đen và dọc 2 bên cánh mộ chạy song song với tường điện Kremlin cổ kính là nhiều bậc khán đài có thể chứa đến 10 ngàn người cho các cuộc mít tinh, duyệt binh. Và phía sát tường một khoảng không gian không lớn nhưng rất trang nghiêm và trầm mặc là mộ chí của những lãnh tụ thời Liên Xô. Một số nhân vật là lãnh tụ của cách mạng trên mộ là pho tượng đơn giản và trân trọng. Mộ phần đại nguyên soái Stalin tôi thấy có nhiều cành hoa tươi hơn các mộ khác.

          Tôi đi giữa Hồng Trường, vào Lăng viếng Lênin, viếng ngọn lửa bất diệt, viếng mộ Stalin, nguyên soái Zhukov… Hồng trường được xây dựng từ Thế kỷ XV, đầu tiên nó là quảng trường thương mại. Ngày nay là quảng trường lịch sử, quảng trường của giao lưu văn hóa. Tiếng chuông trên tháp nhà thờ chính thống giáo Basil có hình vòm củ tỏi khổng lồ vang lên và tháp chuông điện Kremli lanh lảnh như giục giã mọi người và cũng như nhắc nhỡ ta nhớ lại những hồi ức xưa…

          Kremlin trở thành trái tim của nước Nga Xô Viết từ ngày 12 tháng 3 năm 1918 . Lênin đã làm việc ở đây đến năm 1923, Người bị ám sát và bị thương phải đi điều trị - ngày 17 tháng 10 năm 1923 Lênin từ bệnh viện trở về Kremlin, Người vào phòng họp, đến phòng ở, phòng làm việc lấy vài cuốn sách rồi thong thả đi bộ trên sân Kremlin để ra xe ôtô, đi thăm các phố của Moscow gần 2 giờ đồng hồ… Người đi thăm để vĩnh biệt Kremlin, vĩnh biệt Moscow, sau lần đó Người đã mãi mãi không trở lại Kremlin.

           Người Việt Nam đầu tiên đặt chân vào điện Kremlin chính là Bác Hồ của chúng ta. Tháng 10 năm 1923 Bác Hồ-Nguyễn Ái Quốc từ Pháp đến Moscow để tham dự Đại hội nông dân quốc tế và đại hội lần thứ 5 quốc tế cộng sản. Bác đã họp tại cung điện Andreevski trong khuôn viên Kremlin, để rồi sau đó từ điện Kremlin người về Châu Á thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Kremlin đã in dấu chân Người từ những ngày tháng đó.

Năm 1968 cả hai đoàn Việt Nam chúng tôi khi đến Moscow đã được Chính phủ Liên Xô cho nghỉ tại khách sạn sang nhất là khách sạn Russia nằm cạnh Hồng Trường, chúng tôi ngày ngày rảo bước trên nền đá xanh để ngắm ngôi sao trên đỉnh Kremlin, nghe tiếng chuông thánh thót báo giờ của đồng hồ điện Kremlin, viếng Lênin, viếng Stalin, Zhukov, đi bách hóa GUM. Ngày nay GUM vẫn còn và phát triển thêm siêu thị cao cấp nằm sâu 5 tầng dưới lòng đất cạnh Hồng Trường, nhưng khách sạn Russia đã bị đập bỏ để xây mới.

                ***   Moscow còn một nơi ghi dấu ấn và những kỷ niệm lịch sử để tưởng nhớ nhân dân Nga yêu nước đã anh dũng hy sinh và chiến thắng oanh liệt cuộc xâm lăng của Napoléon, mà người chỉ huy cuộc chiến đấu vĩ đại đó là tướng M.L. Kutuzov. Đó là quảng trường, công viên Chiến Thắng. Tượng đài Kutuzov được dựng ngay ở cổng nhà bảo tàng Borodino, nơi trưng bày bức tranh vòng tròn dài 115m vẽ lại cảnh quân đội của Kutuzov chiến đấu với quân Napoléon. Và chính nơi đây, tại làng Fili ngày xưa, ngày 13 tháng 9 năm 1812 hội đồng tướng lĩnh đã họp để quyết định bảo vệ Moscow và nước Nga đang lâm nguy vì quân xâm lược và quyết sách từ mảnh đất này đã làm nên chiến thắng. Nhân dân Nga đã xây dựng nhà bảo tàng để kỷ niệm 100 năm cuộc chiến tranh ái quốc (1812-1912). Đến năm 1973 đài kỷ niệm khổng lồ về các anh hùng trong cuộc chiến tranh 1812 được xây dựng và ngày nay nó được tôn tạo trở thành quảng trường và công viên Chiến Thắng rất nguy nga, hoành tráng. Một dãy dài là những thanh kiếm và những lá cờ được cột phía dưới, tôi nhẹ nhàng dạo bước và thấy như mình đang gặp lại quá khứ. Những lá cờ kia là thay mặt đất nước Xô Viết, thay mặt nhân dân Nga để tưởng nhớ hàng chục triệu người con đã hy sinh vì chiến thắng ,vì sự tồn vinh của nước Nga và vì sự nghiệp mở ra cho nhân loại một thế giới mới.

 Sau khi Liên Xô tan rã, nước Nga mất một thời gian suy yếu nhưng rồi Tổng thống Nga Vladimir Putin đã quyết tâm phục dựng một nước Nga xứng với lịch sử oai hùng của nó. Có thể thấy rằng dù chế độ chính trị thay đổi như thế nào thì nhân dân Nga vẫn luôn biết giữ gìn truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc, đó là di sản vô giá, là nguyên nhân của mọi thành công cho hôm nay và mai sau.

          Ở Moscow còn nhiều di tích đẹp: Bảo tàng Mỹ thuật, bảo tàng lịch sử, các nhà hát, di sản Kuskovo, di sản Ostankino… có nhiều công viên, quảng trường, tượng đài trong đó công viên văn hóa Lênin, có quảng trường Hồ Chí Minh với bức phù điêu chân dung Bác đặt tại quãng trường nằm ở ngã tư đường Cách mạng tháng mười.

***

DẤU ẤN HUYỀN THOẠI

          Người bạn đưa tôi đi thăm Moscow là luật sư lại là nhà sử học Nga, chúng tôi gặp ở Hồng trường một người đóng giả Stalin giống y như thật, họ kinh doanh - nếu ai muốn chụp ảnh với “Stalin” thì trả vài trăm rúp. Tôi đến bắt tay và chụp ảnh với Stalin giả. Họ giỏi quá, nhìn kỹ khó phân biệt đâu là giả. Nhiều người ở năm châu lục vẫn đến đây chụp ảnh với Stalin như để tìm lại một dấu ấn lịch sử. Tôi hỏi người bạn sử học, anh nghĩ gì về Stalin. Anh nói: “Lịch sử là lịch sử, không ai xuyên tạc được. Có bóp méo mà vốn nó tròn thì vẫn là tròn. Lịch sử là phải nói đúng sự thật, cái gì sai, cái gì đúng phải rõ ràng”, đúng vậy, nếu không có Stalin thì Liên Xô sẽ thế nào trước sự xâm lặng tàn bạo của phát xít.

Ngày nay hàng năm tại Hồng Trường, trên đỉnh lăng Lênin vào dịp cách mạng tháng mười Nga (7/11) hoặc ngày chiến thắng Phát xít (9/5) nhà nước vẫn tổ chức mít tinh duyệt binh để kỷ niệm, ôn lại truyền thống và biểu thị sự hùng mạnh của quân đội Nga. Người bạn Nga kể lại với tôi cuộc duyệt binh tại Hồng Trường, sáng ngày 7 tháng 11 năm 2011 kỷ niệm 70 năm ngày nhân dân Liên Xô ra trận chống phát xít cứu dân tộc. Thị trưởng Moscow Sergei Sobyanin chủ trì cuộc kỷ niệm và tại Hồng Trường đã tái hiện lại cuộc duyệt binh ra trận năm 1941. Hai mươi tám([1]) cựu chiến binh từng tham gia cuộc duyệt binh năm 1941 quân phục nghiêm chỉnh cùng 2.000 sĩ quan binh sĩ Nga của thủ đô Moscow diễu qua lễ đài, những chiếc xe tăng T34, T38, T60 những cổ xe huyền thoại năm xưa cùng vũ khí, trang phục năm 1941 được tái dựng lại…Tất cả được truyền trực tiếp trên các kênh truyền hình quốc gia Nga. Trong lòng nhân dân Moscow, trong lòng hàng trăm triệu nhân dân Nga vẫn in đậm những chiến tích oai hùng và sự hy sinh to lớn. 27 triệu dân Xô viết đã ngã xuống, 8 triệu 860.000 chiến sĩ Hồng quân đã hy sinh cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại toàn thắng, cho sự toàn vẹn lãnh thổ của hôm nay và mai sau.

Thị trưởng Moscow trong bài phát biểu tại buổi lễ đã nói: "Hỡi toàn thể người dân nước Nga thân yêu, tôi chào đón các bạn tới dự buổi lễ kỷ niệm một sự kiện lịch sử được coi là cuộc khởi đầu chiến thắng trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại năm xưa".

          Người ta nhớ rằng sáng ngày 7 tháng 11 năm 1941, khi đó các cánh quân đầu tiên của Phát xít Đức chỉ còn cách thủ đô Moscow có mấy mươi cây số, tổ quốc đang lâm nguy. Hitler quyết định tung lực lượng tinh nhuệ mở chiến dịch "bảo biển" (Typhoon) nhằm tiêu diệt toàn bộ ban lãnh đạo Liên Xô. Trong bối cảnh nghìn cân treo sợi tóc, người ta nghĩ rằng Stalin sẽ ra lệnh rút khỏi thủ đô để cố thủ. Nhưng không, các tướng lĩnh Liên Xô, đứng đầu là Stalin và Zhukov đã quyết định sẽ dũng mãnh  tấn công, dùng tấn công để bảo vệ thủ đô. Stalin đã quyết định tổ chức một cuộc duyệt chớp nhoáng để biểu thị lực lượng và động viên tinh thần quân dân Xô Viết và đồng thời cũng là lễ xuất quân ra trận. Buổi duyệt binh diễn ra vào sáng ngày 7 tháng 11 năm 1941 tại Hồng Trường (đúng ngày kỷ niệm 24 năm ngày Cách mạng Tháng 10 thành lập đất nước Xô Viết) . Trên lễ đài, trong lời hiệu triệu ngắn gọn, Đại nguyên soái Stalin kêu gọi các binh sĩ: "Sứ mệnh giải phóng vĩ đại đã trao cho các đồng chí", "dưới ngọn cờ của Lê Nin các đồng chí hãy dũng cảm xông lên giành toàn thắng". Bộ chính trị, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Xô Viết cùng với Stalin đã nghiêm trang chào đội quân của nhân dân Xô Viết duyệt qua lễ đài và đi thẳng ra trận. Và chỉ hơn 30 ngày sau đó, Hồng quân Liên Xô đã đẩy lùi các cánh quân của phát xít Hitler, tạo thế thừa thắng xông lên giải phóng Volgagrad, giải phóng thành phố Lêningrad và giải phóng một loạt các nước Đông Âu ra khỏi ách chiếm đóng của Phát xít Hitler. Cuộc duyệt binh chiến thắng đó đã là mốc "khởi đầu cho sự kết liễu chủ nghĩa phát xít Hitler" (lời Sergei Sobyanin). Lễ duyệt binh lịch sử ấy chỉ diễn ra có 25 phút là cuộc duyệt binh ngắn nhất trong lịch sử Nga nhưng nó được tường thuật tại chổ bằng sóng phát thanh để cả thế giới biết rằng Liên Xô không đầu hàng và toàn quân đang ra trận. Trong cuộc duyệt binh đó có công dân của hàng chục nước trên thế giới tham gia, trong đó có sáu chiến sĩ Việt Nam, những học trò của Bác Hồ đang học tập tại Liên Xô ([2]) .

Lịch sử khẳng định tài nghệ của các tướng lĩnh Xô Viết mà người đứng đầu là Stalin, là nguyên soái Zhukov. Hồng Trường ngày nay vẫn còn nguyên bóng tích của những ngày rực lửa anh hùng đó.

          Lần giở những trang sử xưa càng thấy sự huyền thoại vĩ đại về cuộc duyệt binh ngày 7 tháng 11 năm 1941 ở Hồng trường.

Theo kịch bản của Hitler ngày 7 tháng 11 năm 1941 chúng phải chiếm và phá tan điện Kremlin, duyệt binh mừng chiến thắng và cũng ngày đó sẽ treo cổ, hành hình lãnh đạo Liên Xô, tử hình Staline, phá lăng, thiêu xác Lênin...

Hitler lên kế hoạch cho cả lục và không quân tập kích với mục tiêu số 1 là bắt sống Stalin. Trên thực tế quân của Hitler đã chọc thủng tuyến phòng thủ của Liên Xô và nơi gần nhất chỉ cách Moscow có 30km. Ngày 28 tháng 10, Stalin họp các tướng lĩnh là các tư lệnh và mời cả nguyên soái Zhukov từ mặt trận trở về. Cuộc họp bàn về việc làm sao để đánh trả quân xâm lược, bảo vệ được Moscow - tình thế đang rất khó khăn, bổng dưng Stalin hỏi các tư lệnh:

- Sắp đến 7 tháng 11, kỷ niệm 24 năm cách mạng tháng 10, chúng ta có tổ chức duyệt binh không?

Nghe Tổng tư lệnh hỏi, các tướng soái nhìn nhau. Duyệt binh ư? Kẻ thù chỉ còn cách 30 cây số, mìn đã đặt ở các cây cầu bắt qua sông Moscow chờ giờ bấm nút phá huỷ để ngăn bước tiến của kẻ thù?

Stalin vẫn điềm tĩnh hỏi lại đến lần thứ 3, khi đó các tướng soái mới hiểu ý của Tổng tư lệnh.

Riêng nguyên soái Zhukov thì hiểu ngay, ông gật đầu: Kẻ thù bị ta đánh tiêu hao nặng, mùa đông giá tuyết đang tới, chúng thiếu quân, thiếu áo lạnh và lương thực chưa thể tấn công lớn, nhất là đánh vào Moscow được, ta có thể tổ chức được.

Stalin nghiêm trang nói: “Chúng ta phải làm lễ duyệt binh để khích lệ tinh thần quân dân Xô Viết và để làm cho thế giới biết chúng ta không đầu hàng.

Ngày giờ tổ chức duyệt binh được giữ tuyệt mật.

Nguyên soái Zhukov sau khi trở ra mặt trận đã gởi về cho Stalin một mật thư khẩn viết bằng bút chì hóa học khẳng định có thể duyệt binh được vì Quân Đức đang mất tinh thần, chưa có khả năng tấn công trong thời gian tới.

Stalin quyết định duyệt binh. Để nghi binh, ông tổ chức tiệc và lễ kỷ niệm 24 năm cách mạng tháng mười vào đêm 6 tháng 11 tại phòng chờ trong ga tàu điện ngầm Mayakovscaiya. Stalin đọc diễn văn khai tiệc.

Hitler theo dõi tin tình báo rất kỹ, biết Stalin vừa đọc xong diễn văn. Tuy nhiên, sau khi tan tiệc Stalin thông báo cho Bộ chính trị và các tư lệnh sáng mai duyệt binh  thì Hitler không hề biết.

Sáng ngày 7 tháng 11, sau tám giờ ít phút, tình cờ Hitler mở radio và nghe được tường thuật tại chổ về cuộc duyệt binh của Liên Xô. Y tức tiết ra lệnh các tướng dưới quyền : “ Tôi cho các ông một giờ để chuộc tội, phải ném bom dập tan cuộc mít tinh và tiêu diệt Stalin trên lễ đài”. Lệnh của Hitler tới cấp dưới thì duyệt binh đã thành lễ xuất quân. Hai mươi lăm máy bay Hitler bị Hồng quân bắn rơi vùi dưới tuyết trong buổi sáng này.

Sự huyền thoại vĩ đại đó âm vang mãi hôm nay, một cuộc thăm dò năm 2008 với 40 triệu người Nga đã thừa nhận lễ duyệt binh ngày 7 tháng 11 năm 1941ở Hồng trường là sự kiện huyền thoại vĩ đại có một không hai và Đại nguyên soái Stalin được chọn là nhân vật vĩ đại thứ 3 của lịch sử nước Nga.

***

CÂY CẦU TÌNH YÊU

          Đến Moscow không thể không thăm sông Moscow với rất nhiều cầu. Mỗi cầu có một cách thiết kế, một kỷ niệm riêng, một vẻ đẹp riêng. Tôi muốn nhắc đến cầu Luzhkov bắt qua kênh đào Vodootvodny ở cuối đại lộ Trechekovski nối với Hồng trường. Cầu này không lớn, nó chỉ bắt qua nhánh sông Moscow. Ở đây có rất nhiều ống khóa các kiểu lớn nhỏ móc nối tiếp nhau vào lan can thành cầu. Tôi thắc mắc, vì sao? Nguyên cớ gì mà nhiều khóa đến vậy. Một Giáo sư người Việt Nam dạy ở Trường MEI, một trường lớn của Moscow vừa được phong hàm Viện sĩ hàn lâm ngành điện của Liên bang Nga. Anh đã sống ở Nga hơn một phần ba thế kỷ. Anh giải thích với tôi đó là biểu hiện của tình yêu. Các đôi nam nữ không biết từ bao giờ khi cưới nhau, hoặc sau khi đến nhà thờ làm lễ xong họ ra đây và móc vào lan can cầu 1 ống khóa có khắc tên 2 người với những dòng hứa hẹn ngắn viết trên ống khóa, có khi là một hình vẽ 2 trái tim kèm 2 chữ cái tên của 2 người với màu sắc đẹp. Cả hai sẽ cùng bóp khóa và rút chìa vứt xuống sông để muốn nói rằng 2 trái tim đã hòa vào một và không có gì chia lìa phá vỡ tình yêu của họ. Từ đời này qua đời khác, khóa đầy cả thành cầu. Thành phố mới làm thêm hàng cây nhân tạo bằng kim loại rất đẹp gọi là cây tình yêu, trên những cành cây này cũng vô vàn ổ khóa có khắc tên đôi lứa. Mùa thu vàng, những cặp uyên ương chàng mặc comlê, nàng mặc váy trắng, choàng khăn voan trắng đi trong lá vàng rơi như bướm lượn quanh mình, đến cầu tình yêu và hàng cây tình yêu để đặt khóa biểu trưng cho lời nguyện suốt đời chung thủy. Có những đôi bạn trẻ, mới yêu nhau, chưa cưới cũng đến đây móc khóa để hẹn thề. Nhiều đôi vợ chồng lớn tuổi cũng rảo bước ở đây, họ tìm lại ống khóa của mình và để nhắc nhau hai chữ thủy chung. Nhân nhắc đến cầu tình yêu ở Moscow, tôi nhớ đến những cây cầu tình yêu tương tự như vậy ở các nước. Có lẻ lâu đời nhất, cổ xưa nhất là ở thành phố Rome thủ đô Italia, đó là cầu Milvio bắt trên sông Televe được xây dựng từ những năm hai trăm trước công nguyên. Thời gian đã chứa đựng quá nhiều những ổ khóa tình yêu đến mức cây cầu Milvio không chịu nổi nên nhà nước phải cấm việc móc khóa ở Milvio.

Ở nước Đức xinh đẹp cũng có 2 cây cầu tình yêu. Đó là cầu Eiserner Steg đã trải qua 2 thế kỷ bắt qua sông Main của thành phố Frankfurt. Và cây cầu Hohenzollern nối thành phố Koln với các xứ sở Châu âu bên kia sông Rihine, người ta gọi đây là cây cầu lãng mạn nhất thế giới bởi phong cảnh, sinh thái hài hòa và ở đây, ngoài những ổ khóa tình yêu, còn có nhiều ổ khóa cho tình bạn thân thiết.

Ở St. Pertesburg, thành phố Leningrad ngày trước có cây cầu nụ hôn bắt qua sông Moika, các cặp tình nhân ra đây để hẹn ước, họ không mắc ống khóa mà chỉ để trao nụ hôn với lời nguyện thề bền lâu.

Đi giữa hàng cây nhân tạo lung linh bởi các ống khóa đủ hình thù, màu sắc của cầu tình yêu Luzhkov giữa Moscow tôi càng hiểu sâu sắc rằng: tình yêu, lòng chung thuỷ chính là trụ cột, là khởi đầu cho mọi sự sống chiến thắng. Tình yêu đó, lòng chung thuỷ đó khi được nhân lên, nó là tình yêu đất nước, yêu con người và nó sẽ là sức mạnh vô biên. 

***

 

SAINT PETERBURG- LENINGRAD VÀ NHỮNG ĐÊM TRẮNG

Chiếc máy bay của hãng hàng không Nga từ Moscow nghiêng cánh để chuẩn bị đáp xuống sân bay Pulkovo của thành phố St. Petersburg. Qua khung cửa sổ, chúng tôi có dịp nhìn rõ thành phố lớn thứ hai của nước Nga. Những con sông uốn lượn nối nhau chằng chịt như những mạch máu trong cơ thể con người. St. Petersburg là vị thánh đi trên nước và thắng mọi kẻ thù, Đại đế Peter lấy tên thánh Petersburg đặt tên cho thành phố. Năm 1703, khi khai lập vùng đất này, Peter Đại Đế thấy rõ đây là vùng sông nước với trên 200 hòn đảo lớn nhỏ mà động mạch chủ chính là dòng sông Neva đổ ra vịnh Phần Lan của biển Baltic. Nó là vùng đất quá xinh đẹp, lại là cửa ngõ trọng yếu của phía Tây Bắc nước Nga nên ông đã cho xây ngay pháo đài Peter và Paul làm trận địa tiền duyên trên đảo Zayachuy. Ông cũng cho xây 2 cây cầu để nối với đảo Petrogradsky. Về sau người ta mới xây thêm nhà thờ Peter và Paul để làm nơi chôn cất các Nga hoàng. Pháo đài Peter mở rộng dần, có cả bến cảng,ở giữa tu viện có một trụ tháp bằng đồng bóng lộn cao nhất khu này như một cây bút khổng lồ viết lên mây trời Petersburg. Bên bờ sông sát pháo đài là cảng quân sự ngày đó, chiến hạm Rạng Đông đã được hạ thủy để góp phần bảo vệ vùng đất này. Chiến hạm Rạng Đông đã đi vào lịch sử do nó đã nã phát súng lệnh khởi nghĩa đầu tiên của Cách mạng Tháng Mười năm 1917 do Lê-nin lãnh đạo. Ngày nay, chiến hạm Rạng Đông trở thành di tích bảo tàng trong khuôn viên gần nhà thờ và pháo đài Peter và Paul. Chiến hạm vẫn oai phong trên bờ sông Nê Va, nhiều cánh hải âu bay lượn như tô điểm cho sự sinh động của một di tích lịch sử.

Peter đại đế muốn thành phố này như một Venice ở Phương Bắc nên chỉ cho xây dựng rất ít cầu, mọi đi lại giao lưu là đường thủy. Các công trình lớn xây dựng bên sông, ông cho đào các kênh nhánh để nối các dòng sông, nhất là giữa sông Neva với sông Moika và Fontanka. Về sau, thành phố được phát triển và đã có 340 cây cầu có tên tuổi được xây dựng với nhiều mẫu mã khác nhau. Mười cây cầu lớn bắc qua sông Neva đều được mở để tàu bè qua lại, mỗi cây cầu là một cảnh quan mỹ lệ. Ở hai đầu cầu có tượng đài rất mỹ thuật.

Năm 1917, Cách mạng Tháng 10 thành công, thành phố được đổi tên là Thành phố Lênin (Leningrad). Đây là thành phố cách mạng, thành phố tri thức, thành phố khoa học, thành phố lịch sử và cũng không sai nếu gọi nó là thành phố mỹ thuật. Thành phố St. Petersburg ngày nay là trung tâm lớn kinh tế chính trị và là thành phố du lịch số 1 của Nga, nhân loại bình chọn đây là thành phố đẹp nhất thế giới. Quả là không nhầm khi Unesco chọn St. Petersburg, là một trong tám thành phố đẹp vào bậc nhất trên thế giới để công nhận di sản của nhân loại. Tôi không thể không nhắc ở đây một chi tiết đặc biệt; Bác Hồ sau những tháng năm ở Pháp đã quyết định đến Nga, đến với đất cách mạng, đến với quốc tế cộng sản.Và với bí danh Chen Vang, Bác đã đặt chân lên nước Nga tại bến Cảng của St. Petersburg ngày 30 tháng 6 năm 1923. Có lẽ Bác cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đặt chân lên thành phố cách mạng này.

*        *

*

Từ phố Biển nhỏ (Mopekaia), nơi văn hào Gogol và nhạc sĩ tài danh Traikovsky đã ở và mất, chúng tôi ra quảng trường và nhà thờ mang tên St. Isaac - Đây là nhà thờ lớn nhất của thành phố, được xây từ năm 1710 để tôn thờ vị thánh Isaac. Nhà thờ xây rất độc đáo bằng đá hoa cương, có 48 cây cột đá nguyên khối, mỗi cột nặng 114 tấn và trên trăm cây cột đá khác dựng xung quanh nhà thờ. Mái vòm nhà thờ lớn nhất thế giới, được dát vàng. Nếu tính cả vàng để mạ các họa tiết, điêu khắc cho nhà thờ, thì hết đến 400 kg, 1.000 tấn đồng và rất nhiều đá quí. Vì vậy khi bước vào nhà thờ, cái lộng lẫy, cái nguy nga làm cho mọi người choáng ngợp, nó làm cho tâm thức mỗi người được thênh thang hơn. Nhà thờ có thể chứa đến 14.000 tín đồ. Người ta phải mất đến hơn 40 năm mới xây xong nhà thờ này. Phía ngoài công viên nơi vòng xoay là tượng Nicholas I thong dong trên mình ngựa.

Ở Thành phố St. Petersburg này, có rất nhiều những nhà thờ, những nhà bảo tàng, khu nghĩa trang của các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ tài danh mà tên tuổi đã được nhân loại lưu danh và đáng để chúng ta đến thăm, tưởng nhớ.

Tôi đã xin các bạn ở đây cho tôi thăm lại điện Smolny. Những hướng dẫn viên du lịch ngày nay có người quên, cũng có người cố tình quên địa danh này. Nhưng với tôi và các bạn của tôi đến từ Việt Nam thì không thể quên, vì điện Smolny là cột mốc đầu tiên của Cách mạng, nơi Lênin đã ở và làm việc trong những ngày đầu , là nơi Lênin đọc diễn văn đầu tiên về Cách mạng Tháng Mười. Năm 1918, thủ đô cách mạng dời về Moscow. Chỉ có hơn 350 ngày Lenin ở đây, nhưng cung điện đã đi vào lịch sử. Ngày nay, Smolny là một trong những trường đại học lớn của nước Nga. Tuyên ngôn Cách mạng từ cung điện màu trắng rất dịu dàng này đã làm trái đất đổi thay, cuộc đời nô lệ đã mất đi trên nhiều đất nước, con người đã có thể đứng thẳng lên với đúng nghĩa làm người.

Tôi đã đến công viên Lênin ở gần cụm tượng đài kỷ niệm chiến thắng phát xít. Lênin đứng đó trên đài cao, bốn phía là những đài nước phun trắng xóa như những đợt sóng dâng trào về tư tưởng và tình cảm Lenin dành cho nhân loại. Tượng các chiến sĩ Hồng quân hiên ngang xông lên chiến thắng kẻ thù phát xít. Ở thành phố này, trong 872 ngày bị phát xít bao vây, nhân dân và Hồng quân đã chia nhau mỗi ngày một lát bánh mì, nhưng súng vẫn chắc trong tay, hơn một triệu người ngã xuống, nhưng nhân dân Liên Xô, nhân dân thành phố St. Petersburg anh hùng đã chiến thắng.

*        *

*

Rời trung tâm St. Petersburg đi hơn 30 km, chúng tôi đến thăm Cung điện Mùa Hè, còn gọi là Peterhof. Cung điện nằm ngay cửa sông Neva bên bờ biển Baltic của vịnh Phần Lan. Đứng ở bờ biển nơi có bến thuyền, nhìn ngược lên phía Bắc, là nơi lều cỏ Lenin làm căn cứ trước ngày trở về St. Petersburg để lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười. Cung điện Mùa Hè là một trong 7 kỳ quan đẹp nhất của nước Nga và đứng đầu St. Petersburg. Đây là một quần thể rộng đến 21 ha được xây dựng dưới thời Đại Đế Tzar Peter Romanov vào năm 1714, với 20 lâu đài được xây dựng bởi kiến trúc sư nổi tiếng BartolomeoRastrelli cùng các kiến trúc sư bậc thầy ở Châu Âu thời đó. Phía trước là vườn Thượng uyển mênh mông rộng đến 1.000 ha nối lâu đài với vịnh Phần Lan. Cả một rừng bạch dương, rừng sồi, rừng thông thẳng tắp tạo nên thảm thực vật tuyệt vời. Dưới tán rừng là những thảm cỏ xanh mát mắt với nhiều hoa dại Ramasca nở vàng rực rỡ. Cung điện Mùa Hè êm đềm là nhờ những thảm cây cỏ, và êm đềm hơn nhờ màu tím của hoa ở vườn Xiren phía trên, tầng bậc, mênh mang tạo cho mọi người sự thư thái, tĩnh mịch và phấn chấn.

Cung điện Mùa Hè nguy nga hoành tráng và rực rỡ hơn bởi đại thác nước phía trước cung điện, gồm 64 vòi phun và 150 tháp nước được phun bằng thủy lực cơ học tự nhiên mà không phải dùng máy bơm nước. Họ lấy nước từ suối thiên nhiên ở Ropsha cách đó 20 km. Hai trăm hai mươi lăm bức tượng thần trong huyền thoại Hy Lạp được mạ vàng lấp lánh trong nước và nắng. Ở đây cứ đến 11 giờ trưa, các tháp và vòi phun nước cùng lúc xướng lên bài nhạc nước thánh ca. Tất cả các triều đại Nga hoàng đầu tiên đã trị vì tại đây. Mãi đến năm 1783, Cung điện Mùa Đông mới xây xong và các triều vua luân chuyển làm việc theo mùa đông và mùa hè.

Đến St. Petersburg, không thể không đi thăm Cung điện Mùa Đông. Toàn bộ cung điện gồm 700 phòng với 90.000 mét vuông, ngày đêm soi bóng xuống dòng Neva. Cung điện xây bằng đá hoa cương nhập từ Phần Lan và Ý. Cũng như nhà thờ Isaac, trần, cầu thang, họa tiết cung điện đều dát vàng. Phải cần đến 2.300 công nhân lành nghề miệt mài xây trong 9 năm mới xong. Nghe nói đây là ý tưởng của Nữ hoàng Elizabeth, nhưng bà qua đời khi cung điện chưa xây xong.

Cung điện Mùa Đông nổi tiếng bởi quảng trường phía trước, là quảng trường lớn nhất thành phố. Nó đẹp bởi bên kia quảng trường là một lâu đài vòng cung như hai cánh tay vĩ đại dang rộng đón chào chiến thắng. Trên nóc ngay cổng vào là tượng đài. Tòa lâu đài này với cột tháp Alexande khổng lồ ở chính giữa đã tạo nên quảng trường cung điện mùa đông mênh mông, hoành tráng và tôn vẻ uy nghi của cung điện. Quảng trường xây từ năm 1834 để kỷ niệm chiến thắng Napoleon, có cột cao 25,5m, trên đỉnh đặt tượng thiên thần đang dày nát kẻ thù dưới chân mình. Đây là trụ tháp bằng đá cẩm thạch lớn nhất thế giới. Ngày nay, các cuộc mít tinh lớn, các cuộc liên hoan, festival ở thành phố đều tổ chức tại quảng trường đầy hoa lệ và hoành tráng này.

Trong thời kỳ Xô Viết, Cung điện Mùa Đông được sử dụng làm bảo tàng quốc gia Hermitage,(dịch theo nghĩa đen là nơi tĩnh lặng). Đây là bảo tàng lớn của thế giới, nơi lưu giữ 3 triệu kiệt tác nghệ thuật (gần 15.000 tác phẩm hội họa nổi tiếng, 12.000 tượng, 600.000 bản khắc và phác họa, hàng triệu phù điêu…). Chỉ cần đi thăm hết các phòng của bảo tàng Hermitage cũng đã bằng đi bộ 22 km.

*        *

*

Giữa đêm tháng 6, các bạn đưa tôi và Thanh Hương biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, em gái tôi, đi thăm tượng kỵ sĩ đồng để tưởng nhớ Peter Đại đế. Tượng của người khai phá ra St. Petersburg được đặt giữa công viên bên bờ sông Neva xinh đẹp. Đêm ở St. Petersburg hết sức tĩnh lặng. Nhà điêu khắc đã rất thành công khi tạc nên bức tượng vĩ đại này. Ánh đèn pha chiếu bốn góc làm nổi bật hình dáng Peter Đại đế đang phóng ngựa bay về phía trước theo hướng vươn lên trời. Đế tượng là một khối đá nguyên khổng lồ nặng đến nửa triệu tấn làm thế đứng bay lên của người đầu tiên xây dựng St. Petersburg càng vững chải và uy phong. Tôi đã đọc trong một tiểu thuyết Nga nói rằng có những đêm từ tượng này Peter đã cởi ngựa đi khắp thành phố để quan sát, chiêm nghiệm và giúp đỡ người nghèo khó. Chuyện như một huyền thoại linh thiêng.Nhìn Peter phi ngựa đồng, tôi chợt nhớ đến Thánh Gióng, Vị thánh trẻ của Việt Nam đã cưỡi ngựa nhổ tre làm vũ khí lao ra dẹp giặc phương Bắc xâm lăng, dẹp xong giặc, người phi thẳng về trời....

Đêm hè bên sông Neva trời vẫn se se lạnh, tôi phải kéo mũ che tai và chen vào dòng người đi xem cầu mở trên sông Neva. Đã 24h, người từ  năm châu đến rất đông. Họ chen nhau để tìm một vị trí tốt nhất chờ xem cầu mở. Sau một giờ vài phút, hai nhịp cầu ở giữa từ từ cất lên. Tàu thuyền nối nhau qua cầu trong tiếng hoan hô của đám đông. Đèn flash nháy liên tục – họ chụp ảnh, quay phim cảnh cầu mở. Vào những đêm trắng như thế này xen trong những con tàu chạy qua cầu mở là những cánh buồm đỏ rực náo nhiệt bởi tiếng đàn nhạc và giọng ca sôi nổi. Những cánh bườm đỏ này xuất phát trong thời kỳ Liên Xô là họ dựa vào câu chuyện tình yêu của Aleksandr Gin, nói về chàng thuỷ thủ Artlut Grey đã biến giấc mơ của nàng Assol, người mình yêu thành sự thực bằng hàng ngàn thước lụa đỏ đã trãi trên sông dưới nắng mai rực rỡ trong tiếng đàn phong cầm trầm bổng.

Đến St. Pertesburg , người ta thường cố chọn để đi vào tháng 6 vì đó là tháng có những đêm trắng. Từ ngày 10 tháng 6, ở St. Pertesburg dường như ánh mặt trời không tắt, nó cứ bàng bạc, bàng bạc suốt đêm. Đặc biệt ngày 21 và 26 tháng 6, đêm sáng rực dù không có mặt trời. Đây là hiện tượng do khúc xạ mặt trời từ bên kia bán cầu đang là ban ngày phản chiếu qua những đám băng tuyết khổng lổ của Bắc cực rọi ánh sáng xuống thành phố.Không nắng, nhưng trời vẫn sáng nhẹ nhàng và rực rỡ. Cả thành phố thức, các cửa sổ mở tung, đèn sáng ,có thể nhìn rõ những chậu hoa, bồn hoa trên ban công của mỗi căn nhà. Người ta tụ tập ở các công viên, các quảng trường, bên bờ sông để vui chơi. Họ nhen lửa nướng các món shashlik - là món thịt heo cắt dày cả  nạc và mỡ, xiên với hành tây nướng lên thơm lừng. Họ ăn shashlik, uống bia, uống vodka và nhảy múa. Tôi đã từng gặp ở đây những cô gái mặc phục trang truyền thống của Nga - loại áo Sarafan đỏ, với chiếc mũ có vành trang trí rất đẹp như đuôi con công cũng màu đỏ với những chuổi ngọc trai lung linh. Người Nga gọi đó là mũ Kokoshirik. Các cô gái Nga mắt xanh, tóc vàng, mặt lấm tấm li ti những tàn nhang, mặc những bộ quần áo này và múa hát. Họ hát những bài dân ca Nga nghe cứ du dương trầm bổng như đi giữa rừng bạch dương đổ lá vàng thu. Tôi thích mùa thu với các anh thanh niên đầu đội ca-lô như những anh lính Ivan trong tiểu thuyết, vừa kéo đàn phong cầm vừa nhảy với các cô gái trong trang phục dân tộc Sarafan.

Cả nước Nga và các nước Châu âu đều có thứ ánh sáng bàng bạc này 9 - 10 giờ đêm. Chụp ảnh đêm rất có lợi thế bởi vừa có ánh đèn lại vừa có ánh sáng dìu diệu của thiên nhiên. Tuy nhiên duy chỉ có St. Pertesburg là có đêm trắng.

 

*        *

*

St.Pertesburg có trên 100 nhà bảo tàng lưu giữ tất cả những di sản lớn của nhân loại, của nước Nga và của St. Pertesburg. Tôi đi trên đường phố của St. Pertesburg mà tôi vẫn quen gọi là Leningrad, thong thả dạo bước dưới những hàng cây. Tôi như được gặp lại đây nhà khoa học nổi tiếng Lomonosov, gặp lại nữ nghệ sĩ ba lê tài ba M. Kshesinskaya, gặp các họa sĩ tài danh cửa nước Nga: Levitan, Serov, Repin, Surikov, như được rảo bước cùng Gogol, Lesmantop, như nghe réo rắc Bản giao hưởng Thứ 6 của Traicopsky, tôi như gặp lại nhà thơ lớn Pushkin mà tên tuổi và tác phẩm đã đi vào lòng người.Hôm trên đường đến cung điện Mùa Hè, chúng tôi ghé lại thành phố mang tên Pushkin, giữa những vườn hoa muôn sắc của công viên Ekaterina, đi giữa hàng bạch dương đang thay lá - lá như dát vàng trên con đường nhỏ trong làn sương mai dẫn đến tượng của Đại thi hào Pushkin. Tôi nghe ở đây một nghệ sĩ tóc bạch kim lóng lánh dưới nắng vàng say sưa thổi sáo phối thơ của Pushkin, người đã sống và để lại phần đời ở St. Petersburg. Bài thơ “Thu vàng” của ông là một tuyệt tác. Một dịch giả Việt Nam đã phỏng dịch, xin trích một đoạn:

           Thiên nhiên tàn úa bỗng tươi

          Rừng thay áo mới cả trời vào thu,                

Ào ào hơi gió thở mau

          Bầu trời gợn sóng, một làn khói sương.

          Pushkin ơi, vâng, nước Nga dù có nhiều lần thay áo, dù có lúc tàn úa, thì vẫn luôn xanh tươi, rừng bạch dương vẫn đứng thẳng, hiên ngang và thách thức. Nước Nga - mùa thu, nước Nga của tình yêu và chiến thắng./.

 

 

 


([1])Theo thống kê hiện còn 57 cựu binh từng tham dự cuộc duyệt binh năm 1941.

([2])Người ta đã xác định được danh tánh 6 chiến sĩ Việt Nam là Lý Nam Thanh, Lý Anh Tạo, Lý Thúc Chất, Vương Thúc Tỉnh, Lý Chí Trung và Lý Văn Minh (ngày đó các học sinh đều lấy theo họ bí danh của Bác Hồ là Lý và Vương và ra đi từ Trung Quốc nên tên có nét na ná Trung Quốc).

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: