Khoahocthoidai.vn

Những mối nguy dịch bệnh… từ ruồi nhà

10:50 | 12/05/2018

Những mối nguy dịch bệnh… từ ruồi nhà
Do mối liên hệ rất gần gũi với đời sống loài người, ruồi đã có mặt khắp nơi trên thế giới theo sự di dân của người và là một trong những sinh vật gây phiền hà cho sinh hoạt cũng như đóng vai trò trung gian lây truyền các bệnh đường tiêu hóa cho loài người.

Ruồi - mối phiền hà

Sự xuất hiện của ruồi luôn gây cảm giác khó chịu cho tất cả mọi người đang làm việc và nghỉ ngơi. Ấn tượng về những con ruồi từ những bãi rác, bãi phân… mang theo chất bẩn thỉu trên chân, thân, vòi… đậu vào bàn ghế, vật dụng, thức ăn, nhà cửa, thậm chí trên cơ thể đã gây một cảm giác khó chịu thực sự. Hơn nữa sự hiện diện của ruồi là dấu hiệu của điều kiện mất vệ sinh.

Ruồi - trung gian lây truyền nhiều bệnh nguy hiểm

 

Không chỉ gây ra sự phiền hà khó chịu, ruồi còn là trung gian truyền cơ học nhiều mầm bệnh vi sinh vật từ những nơi ô nhiễm đến người và các thức ăn của người. Khi dính vào mặt ngoài của ruồi, mầm bệnh chỉ tồn tại khoảng vài giờ nhưng khi được nuốt vào trong ruột thì chúng có thể sống sót đến vài ngày. Để kiếm ăn, ruồi bay từ những chất hữu cơ có trong rác, đất giàu chất hữu cơ, chất thải của người và động vật đến đồ ăn thức uống của người mang theo một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh bám dính trên thân, chân, cánh. Đa số các mầm bệnh do ruồi truyền đều nhiễm trực tiếp qua đường thức ăn, nước uống, không khí, tay và sự tiếp xúc giữa người và người. 

Những bệnh do ruồi truyền là các bệnh truyền nhiễm đường ruột (như kiết lỵ, tiêu chảy, thương hàn, tả và một số bệnh giun sán), nhiễm trùng mắt (mắt hột…) và một số bệnh ngoài da (như bệnh mụn cóc, bệnh ngoài da cấp tính, nấm…).

Hiểu biết về tập tính của ruồi sẽ giúp chọn lựa những biện pháp kiểm soát phù hợp

Vòng đời của ruồi trải qua 4 giai đoạn: trứng - giòi - nhộng - ruồi trưởng thành. Thời gian phát triển từ trứng đến ruồi trưởng thành có thể từ 6 - 42 ngày tùy thuộc nhiệt độ môi trường cao hay thấp. Ruồi nhà trưởng thành có thể sống từ 2 - 3 tuần; tuy nhiên nếu điều kiện mát mẻ, chúng có thể sống lâu đến 3 tháng. 

Thức ăn của ruồi rất đa dạng từ thức ăn, rác rưởi đến phân của người và động vật. Do cấu tạo của phần phụ miệng của ruồi ở dạng hút dẫn nên thức ăn của chúng phải ở dạng lỏng.

Ruồi cái có thể sinh sản rất sớm, chỉ vài ngày sau khi nở. Trung bình một con ruồi cái có thể đẻ khoảng 5 lần trong cuộc đời, mỗi lần khoảng 120 - 130 trứng. Với khả năng sản xuất trứng nhiều và vòng đời ngắn như vậy, ruồi nhà được xem là loài gia tăng dân số nhanh nhất.

Ruồi cái đẻ trứng vào chất hữu cơ thối rữa, lên men hoặc mục nát có nguồn gốc động vật hay thực vật như phân động vật, rác chế biến thực phẩm, phân bón hũu cơ, bùn cống, cây cối chất đống trên đường. Khác với ruồi thối và nhặng, ruồi nhà không đẻ trứng trên thịt hoặc xác chết. Sau đẻ vài giờ, trứng sẽ nở ra dòi. Dòi cần thở ô xy trong không khí vì vậy chúng chỉ sống ở nơi có đủ khí ô xy. Đây là một đặc điểm khá quan trọng, cần lưu ý trong kiểm soát sự phát triển của loài ruồi.

Trong khi giai đoạn trước trưởng thành của loài ruồi nhà gắn liền với các chất thải hữu cơ bên ngoài nhà thì ruồi nhà trưởng thành lại gắn với những nơi sinh hoạt của con người. 

Ruồi trưởng thành hoạt động chủ yếu vào ban ngày khi chúng ăn và giao phối. Có thể tìm thấy ruồi tại các điểm trú đậu như sàn nhà, tường, thùng rác, dây phơi quần áo, thảm cỏ, thảm cây. Ban đêm, ruồi không hoạt động, chúng thường đậu phía ngoài nhà như tường rào, dây phơi, dây điện trần… Nhìn chung ruồi thường đậu ở nơi tránh được gió, gần với nơi đẻ và nơi kiếm ăn của chúng. Nhiệt độ và độ ẩm môi trường cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn nơi đậu nghỉ và hoạt động của ruồi. Chúng ưa thích những nơi có độ ẩm không khí thấp, nhiệt độ từ 35 - 40 độ C.

Chúng ta cùng xem clip để hiểu hơn về mối nguy hiểm từ ruồi nhé.

 

Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khỏe TP.HCM

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: