Khoahocthoidai.vn

Ngủ thăm ngủ thử và ngủ thật trong văn hóa người tây nguyên

00:00 | 13/01/2019

Ngủ thăm ngủ thử và ngủ thật trong văn hóa người tây nguyên
Ngủ là trạng thái tạm ngừng trí giác và ý thức, các hoạt động hô hấp, tuần hoàn chậm lại, toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi (Từ điển tiếng Việt). Giấc ngủ ngon sẽ khiến con người khỏe khoắn, đồng thời làm giảm căng thẳng, xoa dịu tâm trí. Ngủ là một nhu cầu tự nhiên bắt buộc phải có. Thiếu ngủ, khả năng nhận thức của con người sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đối với các dân tộc Tây Nguyên, ngủ không chỉ là một nhu cầu tự nhiên mà còn là biểu hiện của văn hóa. Trong văn hóa Tây Nguyên, ngủ ở đâu, ngủ với ai, ngủ để làm gì và ngủ như thế nào là một vấn đề không phải ai cũng có thể hiểu đúng nghĩa về nó.

Hiện tượng “ngủ thăm”, “ngủ thử” hay “ngủ thật” trong cộng đồng thiểu số ở Việt Nam trở thành một chủ đề đã thu hút sự hiếu kỳ của nhiều người. Tục “ngủ thăm” ở mỗi dân tộc có những quy định khác nhau. Trong văn hóa của một số dân tộc miền núi phía Bắc, đối với nam nữ đã trưởng thành, “ngủ” đã trở thành tục lệ trước khi kết hôn, kể cả có hiện tượng con trai cạy cửa hoặc chọc sàn nhà con gái để tán tỉnh. Như người Dao đen Tiền có tục ngủ ngửi cho quen hơi, còn người Thái, H’mông, Mường có tục “ngủ thăm” để mở màn cho việc kết nối lâu dài trong hôn nhân. Đối với các dân tộc ở Trường Sơn - Tây Nguyên không có hiện tượng “chọc sàn”, “cạy cửa”, hoặc hiện tượng “bắt chồng” giống một số dân tộc miền núi phía Bắc, mà chỉ có hiện tượng “cưới chồng” hoặc “cưới vợ”. Trước khi lấy nhau, tình yêu của trai gái ở Tây Nguyên phải được rèn luyện và nuôi dưỡng trong một quá trình lâu dài. Quá trình này là từ “ngủ thăm” đến “ngủ thử” và rồi “ngủ thật” (hôn nhân). 

Với người Jrai, Êđê, S’tiêng, Mnông, Bahnar, Chu Ru, Cơ Ho, Cil, Giẻ Triêng ở Trường Sơn - Tây Nguyên, hiện tượng “ngủ thăm” không phải là một hiện tượng lạ, ai ai cũng có thể được phép ngủ thăm, ngủ thăm được diễn ra thường xuyên trong các dịp lễ hội. Trong xã hội truyền thống, hoạt động văn hóa lễ hội thường diễn ra nhiều ngày, hiện tượng “ngủ thăm” thường xuất hiện vào ban đêm khi các chàng trai cô gái ở lại để hỗ trợ công việc cho các ngày tiếp theo. “Ngủ thăm” là một trong những trải nghiệm để giúp con người rèn luyện bản lĩnh và làm chủ cảm xúc của mình trước bạn trai hoặc bạn gái. Khi việc ban ngày tạm dừng, cộng đồng thường tham gia uống rượu cần, diễn tấu cồng chiêng, múa xoang, hát dân ca… Khi cái chân đã mỏi, khi men rượu cần đã thấm cũng là lúc con mắt lim dim hoặc có nhu cầu tình tự, hoặc trải lòng mình với người xung quanh, các chàng trai, cô gái bắt đầu tìm cho mình một chỗ để “ngủ thăm” (ngủ tập thể) bên cạnh bếp lửa hồng trong ngôi nhà rông, ngôi nhà sàn hay ngoài khu mộ địa (nếu tổ chức lễ hội bỏ mả).... Cũng có những anh chàng hay nghịch ngợm, hồn nhiên thường ngủ chung với lũ con gái khi đêm về trong lễ hội. Họ có thể đắp chung chăn hoặc riêng nhưng chỉ được “ngủ chay”. Mọi sự lạm dụng về thể xác sẽ bị cho là vi phạm luật tục và sẽ bị tố cáo.

Trong quá trình “ngủ thăm”, nếu chàng trai nào gây được thiện cảm với cô gái thì họ bắt đầu có nhu cầu tách cặp và được chuyển qua giai đoạn “ngủ thử”. Tiếng Cơtu gọi là lướt zướng, tiếng Sdăng gọi là kuy pah oh pô hoặc kuy dăm tipo anghe kuôt, tiếng Êđê gọi là đăm sang mniê êra, tiếng S’tiêng gọi là phic nhi gna sal ur …

Nguyên tắc “ngủ thử” của mỗi dân tộc khác nhau. Người Ktu ở Quảng Ngãi thì chàng trai làm chòi yuông ở ngoài rẫy để trai gái “ngủ thử” và ngủ chung nhưng không được “vượt đèn đỏ”. Người Triêng ở Ngọc Hồi - Kon Tum thì chàng trai được ngủ ở bếp riêng nhà cô gái. Người Êđê, Jrai, Mnông… thì chàng trai được ngủ ở gian khách nhà dài của cô gái. Ban ngày con trai tự nguyện chủ động đến nhà con gái giúp việc nhà. Ban đêm chàng trai rủ thêm người anh em của mình hoặc ngủ lại một mình ở nhà cô gái trong gian khách. Cô gái sẽ mang một chiếc chiếu mới, một chiếc gối mới, một chiếc chăn mới (nếu là mùa hè), hơn 2 chiếc chăn (nếu mùa đông) đến trải phía đông bên cạnh bếp lửa gian khách để chàng trai ngủ. Cô gái có thể rủ một bé gái hoặc những người chị em gái của mình cùng ngủ gần nơi chàng trai kia phía bếp lửa ở gian khách. Họ cùng nhau đốt nhựa cây nhuộm răng, chơi nhạc cụ hoặc tự tình. Cô gái cũng có thể ngủ gần chàng trai kia một mình trên chiếc chăn, chiếc chiếu của riêng mình. Việc “ngủ thử”, “ngủ dò” có thể được kéo dài hơn 3 đêm hoặc có khi cả tháng. Nếu chàng trai giữ được bản lĩnh của mình qua những lần “ngủ thử”, “ngủ dò” và chiếm được tình yêu của cô gái thì cô gái sẽ đồng ý và chấp nhận tiến hành làm các thủ tục để được… “ngủ thật”.  Nếu không bản lĩnh “vi phạm vào vùng cấm địa” thì chàng trai sẽ bị cô gái tố cáo vì đã xúc phạm đến thân thể của cô và bị xử phạt rất nặng theo luật tục. Chàng trai có thể bị phạt trâu, bò, heo, gà và rượu cần cho cô gái trước sự phân xử của cộng đồng làng và bị tẩy chay. Nếu cô gái nào dễ dãi hoặc nhẹ dạ “trao thân” có chửa khi cho con trai “ngủ thật” trước kết hôn sẽ bị cộng đồng lên án và bị cho rằng tiếp tay cho “sự xấu xa”, phải nộp phạt và bị đuổi ra khỏi làng… Như vậy, nhân cách, đạo đức của nam giới và phụ nữ được đánh giá không chỉ bằng tài năng, trí tuệ, sức lao động mà còn được đo lường bằng cả nhân cách, đạo đức và cả những lần thử thách trong tình yêu theo quy định của luật tục.

Sau khi kết thúc giai đoạn “ngủ thử”, “ngủ dò”, cô gái thường bộc lộ tình cảm của mình với mẹ hoặc bà. Bà ngoại và mẹ chia sẻ với cha cô và họ mời những người đại diện đến nhà chàng trai để thực hiện các bước liên quan đến lễ hỏi và lễ cưới. Mỗi một dân tộc có các bước tiến hành cưới hỏi khác nhau. Sau hôn lễ chàng trai cô gái ấy được gia đình chính thức chấp nhận là vợ chồng và được phép “ngủ thật”. Có những dân tộc sau cưới hỏi mới được “ngủ thật”, cũng có những trường hợp vì chưa đủ điều kiện để cưới nên hai họ làm lễ hỏi để cam kết và trai gái được “ngủ thật” đến khi sinh con, đẻ cái, kinh tế phát triển mới làm lễ cưới (trường hợp người Bih ở huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk). “Ngủ thật” không chỉ là nhu cầu tự nhiên mà còn thể hiện sự nối kết niềm tin giữa đôi trai gái khi kết hôn, tạo ra sự liên kết giữa các dòng họ và được cộng đồng thực hiện nghiêm túc. Hiện tượng “vượt rào” trong xã hội truyền thống và hiện tượng ly hôn cũng rất hiếm trong cộng đồng các dân tộc.

Như vậy, có thể thấy “ngủ thăm”, “ngủ thử” và “ngủ thật” là các bước thắt chặt tình cảm của trai gái trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Đây là một hiện tượng văn hóa lạ, thú vị, một nét đẹp trong văn hóa ứng xử. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố khách quan, hiện tượng văn hóa này đã có nhiều biến tướng hoặc bị lợi dụng, biến một số cô gái nhẹ dạ, cả tin ở vùng sâu, vùng xa thành nạn nhân của sự lừa gạt hoặc để lại những đứa trẻ không cha.

Không ai có thể phủ nhận hiện tượng “ngủ thăm”, “ngủ thử”, “ngủ thật” của các dân tộc ở Tây Nguyên là một nét văn hóa đẹp, nếu không có những sự “biến tướng” do nhận thức chưa đầy đủ của một số người. Phát triển nét văn hóa này để nó trở thành những câu chuyện đầy tính nhân văn, thú vị như sự cuốn hút của vũ điệu xoang hoang dã, hay hương rượu cần say đắm lòng người trong môi trường đa văn hóa như hiện nay cũng là một mong ước đầu xuân của những người làm công tác nghiên cứu, bảo tồn văn hóa các dân tộc.

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: