Khoahocthoidai.vn

Khỏa thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

16:03 | 09/08/2019

Khỏa thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
(KHTĐ) - Tuyển chọn người tài, sử dụng, quản lý và đánh giá nhân tài là một công việc quan trọng, góp phần to lớn vào sự quản lý thành bại của cả một đất nước. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...”  Câu nói của nhà giáo Thân Nhân Trung - Tiến sĩ triều Lê không chỉ có ý nghĩa trong xã hội thời Lê mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị về việc lựa chọn và sử dụng đội ngũ trí thức, đóng góp cho sự hưng thịnh của đất nước.

Lịch sử dựng nước và giữ nước đã trải qua không ít cuộc cải cách nói chung, cải cách hành chính nói riêng. Trong những cuộc cải cách đó, cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông có quy mô và phạm vị rộng lớn hơn cả. Đây là một cuộc cải cách thành công, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng đất nước thành một quốc gia hùng mạnh, xây dựng một nhà nước quân chủ phong kiến trung ương tập quyền. Cho đến hiện nay, cuộc cải cách dưới thời vua Lê Thánh Tông vẫn còn để lại nhiều giá trị cho công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay.

Lê Thánh Tông thực hiện cải cách hành chính của đất nước trong điều kiện khủng hoảng về thể chế chính trị, khủng hoảng cung đình, cùng với đó là sự yếu kém của bộ máy hành chính nhà nước và sự tha hóa của đội ngũ quan lại. Trước tình hình đất nước rơi vào khủng hoảng và khó khăn, Lê Thánh Tông đã thực hiện cải cách một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực trong xã hội, như là: thể chế, chính sách, đất đai, hành chính.

Cải cách hành chính thực hiện dưới triều vua Lê Thánh Tông được thực hiện bao quát từ hệ thống pháp luật đến hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước Trung ương đến địa phương, cải cách quan chế với những quy định nghiêm ngặt, đảm bảo bộ máy quan lại hoạt động ổn định, hiệu quả, tận dụng được nguồn nhân tài của đất nước.

Lựa chọn được người tài để làm việc và cống hiến cho đất nước là một việc khó, song việc sử dụng, kiểm tra và đánh giá nhân tài trong quá trình làm việc để phát huy hiệu quả công việc lại càng khó hơn. Để sử dụng nhân tài tốt nhất, cần có quá trình kiểm tra và đánh giá đội ngũ quan lại với phương pháp hiệu quả, nhằm phát huy tài năng, đức độ của những vị quan thanh liêm, đồng thời kịp thời phát hiện và sa thải những vị quan thoái hóa, biến chất. Lê Thánh Tông là một vị vua anh minh khi ông tỏ ra rất nghiêm khắc và chặt chẽ trong việc đặt ra những lệ mới và tiến hành các biện pháp hữu hiệu để kiểm tra và giám sát đội ngũ quan lại các cấp.

Lê Thánh Tông đã cho lập ra hệ thống tổ chức bộ máy nhằm thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá nhiệm vụ của các lại, quan. Cơ quan đầu tiên được nhắc đến là Ngự sử đài. Ngự sử đài được tổ chức ở Trung ương và 13 xứ trong nước bấy giờ. Bên cạnh Ngự sử đài là Lục khoa thực hiện giám sát với hoạt động của Lục bộ trong triều. Ở địa phương, ông cho lập ra Hiến sát sứ ty nhằm điều tra và đàn hặc (truy tố) những việc làm trái phép, xét duyệt công trạng cho các quan lại trong địa hạt mình quản lý. Đồng thời, quan lại ở các địa phương còn bị giám sát bởi chính quyền cấp trên trực tiếp của mình. Hệ thống các cơ quan này hoạt động dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát độc lập nhưng có sự phối hợp theo quy định.(1)

Cùng với bộ máy trải dài từ trung ương đến địa phương nhằm kiểm tra và giám sát đội ngũ quan lại các cấp, để khuyến khích, động viên các quan lại thường xuyên trau dồi năng lực, đạo đức và loại bỏ những quan lại thoái hóa, biến chất, vua Lê Thánh Tông đặt ra chế độ “Khảo thí” và “Khảo khóa” quan lại.

Chế độ “khảo thí” và “khảo khóa” dưới thời vua Lê Thánh Tông có nhiều điểm khác so với chế độ kiểm tra, giám sát trước đó. Chế độ kiểm tra, giám sát trước đó lấy công vụ làm đối tượng kiểm tra, giám sát chỉ góp phần đánh giá quan lại, nhằn đảm bảo hiệu lực các chính lệnh của nhà vua. Chế độ “khảo thí” và “khảo khóa” dưới triều Lê Thánh Tông lấy quan lại làm đối tượng chính để kiểm tra, giám sát với mục đích tái lựa chọn quan lại phục vụ triều đình. Đây là một cách thức cải cách tiến bộ trong lịch sử, có giá trị đối với công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay.

Khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông

Khảo thí

Cứ 3 năm một lần, các quan lại đương chức từ quan nhất phẩm đến cửu phẩm, cả quan văn lẫn quan võ, từ trong kinh đến ngoài đạo đều phải trải qua khảo thí. Ngay cả đối với những người đã đỗ trong các kỳ thi Đình, được bổ làm quan, đến kỳ khảo thí cũng phải khảo thí. Người thi đỗ được xét ban thưởng hoặc thăng chức. Lại, quan không thi đỗ liền bị giáng cấp hoặc bãi chức, binh lính không thi đỗ thì bị thải hồi, bất kể quân hay tướng.(2)

Sức mạnh của bộ máy hành chính không chỉ quan trọng ở cấp quản lý mà còn cần vững vàng ở ở cấp thừa hành, sự vụ. Ngay từ thời Trần, Trần Thủ Độ đã coi trọng việc tuyển dụng nha lại qua thi cử, khảo sát. Đến Lê Thánh Tông, ông vẫn coi trọng, đặc biệt là khảo về học vấn: “Các chức đội, lại thì Hộ bộ khảo sát những người am hiểu về viết chữ và tính toán trong các cục, ty, sở, ai đỗ thì bổ vào.”

Vì thế, nội dung khảo thí được quy định rõ ràng: quan văn thì giải kinh nghĩa, làm thơ phú, viết kế sách trị nước an dân (thực chất đây là một bài văn theo yêu cầu, đề bài do nhà vua đích thân ra và trực tiếp chấm); quan võ thì thi dàn trận, bắn cung, võ nghệ, đua ngựa, đua thuyền, dàn quân, chiến thuật. Kết quả khảo thí được chia là ba bậc: bậc 1: có tài cán, văn võ song toàn, làm việc nhanh, hiệu quả; bậc 2: biết chữ, tính toán giỏi; bậc 3: biết chữ. Dựa vào đánh giá quan lại sau kì khảo thí, nhà Lê phân bổ quan lại của các bậc vào các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương sao cho hợp lý. Người đỗ thì được phân công công việc, thưởng áo, tiền, thăng chức, tước. Còn người không đỗ thì bị giáng chức hoặc bãi chức; binh lính thì bị thải hồi hoặc bắt phục dịch các công việc nặng nhọc khác,…(3)

Với những biện pháp “khảo thí” định kỳ của Lê Thánh Tông, ông có các căn cứ cụ thể để phân loại được trình độ năng lực của đội ngũ quan lại đang làm việc cho triều đình, từ đó có cơ sở để thăng giáng chức, bố trí công việc cho phù hợp. Đây là biện pháp hữu hiệu khuyến khích đội ngũ quan lại thường xuyên trau dồi, rèn luyện năng lực và đức hạnh để có thể đáp ứng được những yêu cầu của nhà vua.

Khảo khóa

Vua Lê Thánh Tông kiểm tra đức, tài bằng lệ khảo khóa. Sau khi đã nhậm chức từ 3 năm trở lên, các lại, quan tham gia một kỳ khảo khóa để kiểm tra khả năng và tinh thần trách nhiệm. Vua xuống dụ: “Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước… Nay nha môn trong ngoài, người nào nhậm chức đã đủ 3 năm phải thực hiện khảo khóa, không được chậm trễ.” (4)

Khảo khóa không chỉ nhằm kiểm tra, đánh giá công tích hay sai lầm của các quan lại để thăng giáng, mà còn nhằm chuyển đổi nơi nhiệm sở một cách hợp lý, có tính chất tưởng lệ. Năm 1480, Vua từng ban lệnh: “Các quan viên nhậm chức ở vùng đất độc hại đã đủ hai lần khảo khóa trở lên mà xứng đáng với chức vụ, không có tội lỗi thì Lại bộ xét thực, rồi điều về chỗ đất lành.” (5)

Lệ khảo khóa tuy đã được tiến hành từ thời Lý nhưng chưa thành quy chế. Đến năm Hồng Đức thứ 19 (1488), qua khảo khóa đem lại hiệu quả thiết thực, nhà vua mới định ra “Lệ khảo khóa”. Lệ khảo khóa dưới triều Vua Lê Thánh Tông gồm 4 điểm cơ bản, trong đó điểm 1 quy định: “Phép khảo khóa: 3 năm sơ khảo, 6 năm tái khảo, 9 năm thông khảo rồi mới tiến hành thăng giáng”.

1. Sơ khảo

Ba năm một lần, các quan trên phải kiểm tra, đánh giá quan lại dưới quyền. Lại, quan nào chăm lo đến dân, được dân ủng hộ, trong hạt ít người lưu vong, an ninh ổn định, kinh tế phát triển thì được cho là xứng chức. Ngược lại, lại, quan nào nhũng nhiễu, đục khoét, tư túi, làm bậy, trong hạt nhiều người phải lưu vong, hay xảy ra trộm cướp, giết người thì bị coi là không xứng chức. (6)

Nếu trong khi làm quan mà phạm tội bị xử phạt thì không chờ hết 3 năm mới khảo khóa, họ bị coi là không xứng chức. Lại, quan nào bị quan trên nhận xét là không xứng chức thì ngay lập tức bị bãi chức, giáng chức hoặc bị trừng phạt theo tội đã phạm phải.

Sau khi sơ khảo, nếu ai được nhận xét là xứng chức thì sẽ được tiếp tục giữ chức vụ của mình đang đảm nhiệm. Nếu bị coi là người không xứng chức thì sẽ bị cách chức. Việc xét công, phân loại quan lại, ngoài các tiêu chuẩn niên hạn, ông còn yêu cầu quan lại phải đảm bảo hai yếu tố là đạo đức và năng lực. Một quan lại không thể chỉ có hoặc đạo đức, hoặc năng lực mà phải đảm bảo đầy đủ 2 yếu tố để có thể phục vụ triều đình, phục vụ dân chúng.(5)

2. Thông khảo

Lại, quan nào đã qua 3 năm đầu tiên với kì sơ khảo, 3 năm tiếp theo với kì tái khảo, đến lần thứ 3 (9 năm) thì được thông khảo. Trưởng quan đánh giá, nhận xét công việc trong cả 9 năm của người chịu thông khảo kèm theo lời đề nghị rồi trình lên Bộ lại để xem xét việc thăng, giáng. Quan từ nhị phẩm trở lên thì Bộ lại tâu lên nhà vua quyết định, từ nhị phẩm trở xuống thì Bộ lại quyết định. Nếu ai có tài đặt biệt được đặc chỉ của nhà vua thì không nhất thiết phải theo lệ khảo khóa như quy định: “Nếu có người tài năng kỳ lạ, được đặc cách thăng bổ thì không câu nệ vào lệ này.” Đó là việc thăng, còn việc giáng thì: “Các viên quan lười biếng, bỉ ổi, đê tiện, yếu hèn, nếu là con cháu công thần thì bãi chức cho về hạng dân. Nếu là con cháu thường dân, thì bãi chức, sung quân.”  (7)

Theo “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Thánh Tông năm Hồng Đức thứ nhất (1470) định lệnh khảo khóa quan viên dưới quyền cai quản. Phàm trưởng quan các nha môn trong ngoài xét công các quan viên dưới quyền cai quản, phải xét kỹ các công việc đã từng làm, như có để lòng thương dân, được dân yêu mến và trong hạt số dân trốn đi ít thì mới xứng chức. Nếu hay đòi hỏi, quấy nhiễu theo lòng riêng mà sinh tệ và trong hạt số dân trốn đi nhiều thì không xứng chức.”

Như vậy, quan lại xứng chức dưới thời Lê Thánh Tông ngoài việc phải có trình độ năng lực còn phải là người “có để lòng thương dân, được nhân dân yêu mến” hay không. Lấy tư tưởng yêu dân, thương dân, thanh liêm, công bằng, chống tham nhũng và các tệ nạn khác làm tiêu chuẩn xét thành tích quan lại của Vua Lê Thánh Tông là một tư tưởng tân tiến của ông, có giá trị đến thời điểm hiện tại.

Một số bài học kinh nghiệm cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức là một trong những hoạt động quan trọng của người lãnh đạo, quản lý trong thời điểm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp và hiện đại như ngày nay.

Nghiên cứu lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông - cách thức đánh giá, giám sát quan lại tiêu biểu trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chúng ta có thể rút ta một số bài học kinh nghiệm bổ ích, phục vụ cho quá trình cải cách nền hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể những bài học đó là:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật vững chắc, nghiêm minh, đảm bảo điều chỉnh bao quát nhất các lĩnh vực trong đời sống xã hội.

Dưới thời vua Lê Thánh Tông, Luật Hồng Đức được ban hành và đưa vào sử dụng. Bộ Luật Hồng Đức là bộ Luật đầu tiên của nhà nước Việt Nam ta, có giá trị cho đến ngày nay. Lê Thánh Tông đã cho xây dựng Bộ Luật Hồng Đức điều chỉnh khá đầy đủ các mối quan hệ trong xã hội và trong lĩnh vực hành chính, chủ yếu dựa theo nguyên tắc “quyền uy – phục tùng”. Bộ Luật Hồng Đức cùng hệ thống pháp luật bấy giờ quy định rất chi tiết, cụ thể về các lĩnh vực trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội, trong đó có cả việc kiểm tra, giám sát quan lại. Do vậy, pháp luật dễ sử dụng và đi vào đời sống nhân dân. Đồng thời, Bộ Luật Hồng Đức được xây dựng vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính độ lượng, khoan dung đúng mực của pháp luật. Dù đưa ra các chế tài để xử lý rất khắt khe với những người phạm tội, song Bộ Luật cũng linh hoạt giảm tội khi người phạm tội biết ăn năn, hối cải và sửa chữa lỗi lầm của mình.

Bộ Luật Hồng Đức dưới thời vua Lê Thánh Tông gồm 6 quyển, 722 điều đến nay vẫn được xem là bộ luật hoàn chỉnh nhất thời phong kiến của nước ta. Đây là bộ luật được xây dựng trong thời gian dài, suốt từ thời Lê Thái Tổ đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thiện. Trải qua mỗi đời vua, với hoàn cảnh lịch sử đất nước khác nhau, Bộ Luật được bổ sung và xây dựng thêm hoàn chỉnh. Đến thời Lê Thánh Tông, sau khi hoàn thiện, Bộ Luật Hồng Đức công bố và đưa vào sử dụng rộng rãi với vai trò là Quốc Triều hình luật (Hay Lê triều hình luật).

Bộ Luật Hồng Đức có đưa ra những quy định rất cụ thể về việc tuyển chọn, cũng như kiểm tra, đánh giá lại, quan trong triều. Nhờ sự nghiêm minh của pháp luật đương thời mà hệ thống quan lại trong triều đình được lựa chọn và sử dụng có hiệu quả. Các quan lại đều cố gắng, nỗ lực phấn đấu để được đứng trong đội ngũ quan lại triều đình, chức tước ngày một cao.

Việt Nam hiện nay với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì Hiến pháp và pháp luật là công cụ đóng vai trò tối quan trọng trong việc thực hiện vai trò và quyền lực của Nhà nước. Hệ thống pháp luật nước ta dù đang được chú trọng để bổ sung và hoàn thiện nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều lỗ hổng và bất cập, như là: nhiều quy định thiếu tính đồng bộ, thống nhất; có những quy định chồng chéo, gây ra việc khó xác định trách nhiệm của các cơ quan trong thực thi công vụ; có những vấn đề trong xã hội cần được pháp luật điều chỉnh nhưng chưa có pháp luật đề cập đến; nhiều quy định trong pháp luật cấm hoặc không cho phép cán bộ, công chức, viên chức hoặc người dân làm gì đó, song lại không có chế tài xử lý nếu như họ vi phạm pháp luật;… Do vậy, không chỉ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước mà cả người dân cũng dễ dàng lách luật vì những lỗ hổng đó.

Theo đó, cần xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật quy định rõ về cách thức tổ chức và họat động bộ máy thực hiện kiểm tra, giám sát từ trung ương đến địa phương một cách đồng bộ, thống nhất; quy định về chức năng, nhiệm, vụ, quyền vụ, quyền hạn cuả mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân người đứng đầu trong việc thực hiện kiểm tra, đánh giá nhằm phân công công việc rõ ràng, tăng cường tính trách nhiệm và minh bạch trong quá trình thực thi công vụ. Đồng thời, hệ thống pháp luật phải đưa ra chế tài xử phạt đối với mỗi vi phạm hoặc hành vi không hành động của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện kiểm tra, đánh giá để tạo sức răn đe, buộc cán bộ, công chức nâng cao ý thức của mình trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ hai, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện kiểm soát, đánh giá hoạt động của cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương; hoạt động độc lập, công khai, công bằng và hiệu quả.

Tổ chức bộ máy đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công hay không các chính sách mà nhà nước ban hành. Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện kiểm soát và đánh giá hoạt động của cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương đảm bảo hoạt động có hiệu lực, hiệu quả là một trong những vấn đề mà nước ta hiện nay đang cần phải giải quyết.

Tổ chức bộ máy thực hiện kiểm soát cán bộ, công chức hiện nay ở nước ta vẫn còn phụ thuộc nhiều vào hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở, Thanh tra Tỉnh, Thanh tra Huyện là những cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, nhưng lại được thành lập từ cơ quan hành chính cùng cấp và chịu sự quản lý của cơ quan hành chính đó. Do vậy, hoạt động của hệ thống cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nước ta hiện nay còn mang tính hình thức và chưa hiệu quả.

Để đảm bảo cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, công chức làm việc hiệu lực và hiệu quả, cần cải cách hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước. Có thể tách hệ thống cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát ra thành một hệ thống riêng hoặc chuyển sang hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước thay vì để các cơ quan này nằm trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và thực hiện kiểm tra, giám sát các cơ quan hành chính nhà nước. Có như vậy mới có thể đảm bảo được tính độc lập trong hoạt động, và công khai, công bằng trong quá trình thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động công vụ của cán bộ, công chức.

Thứ ba, tuyển chọn đội ngũ cán bộ, công chức có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức đáp ứng nhiệm vụ của hoạt động công vụ.

Tiêu chuẩn về đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước nói chung cần được đưa ra cụ thể về mọi mặt: trình độ chuyên môn, kỹ năng mềm cần thiết, phẩm chất, đạo đức, lối sống,… Đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động của cán bộ, công chức khác phải là những người có trình độ năng lực và phẩm chất hơn cả. Để công tác kiểm tra, đánh giá có hiệu quả, đảm bảo công khai, công bằng, đúng tiêu chí, tiêu chuẩn, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, đánh giá phải là những người có kinh nghiệm trong công việc và trong cuộc sống; được đào tạo bài bản và nắm chắc kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ; có kỹ năng quan sát, phân tích, đánh giá; làm việc trung thực, hiệu quả; không thiên vị;…

Việt Nam hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện kiểm tra, đánh giá được lựa chọn cùng cách thức với những cán bộ, công chức khác. Điều này có thể bỏ sót nhân tài, hoặc lựa chọn những người chưa đủ năng lực, phẩm chất làm công tác kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, để công tác tuyển dụng có hiệu quả, đúng người đúng việc; trong thời gian sớm nhất, cần hoàn thiện và triển khai mô hình vị trí việc làm trong tổ chức bộ máy nhà nước thay vì mô hình chức nghiệp như hiện nay. Bởi mô hình vị trí việc làm với việc xây dựng đầy đủ tiêu chí, tiêu chuẩn trong bản mô tả công việc có thể dễ dàng có căn cứ lựa chọn đúng người đúng việc, có cơ sở thực hiện đánh giá kết quả thực thi công việc, hoàn thiện mô hình việc làm ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Thứ tư, xây dựng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, công chức định kỳ.

Việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức hiện nay ở nước ta đang được thực hiện định kỳ vào tháng 12 hàng năm. Theo đó, cán bộ công chức được đánh giá theo một hệ thống tiêu chí mang tính định tính, rất khó biết sát thực hay không, như là: gương mẫu chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có lối sống, tác phong, lề lối làm việc chuẩn mực, lành mạnh; duy trì kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; không để xảy ra các vụ, việc vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật phải xử lý trong phạm vi quản lý; tận tụy, có tinh thần trách nhiệm trong công tác; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao; các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao phụ trách hoàn thành 100% nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đột xuất; lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức đạt kết quả tốt, có tác động trực tiếp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của ngành, lĩnh vực được giao, còn phải có sáng kiến, giải pháp cụ thể được áp dụng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan, tổ chức hoặc của ngành, lĩnh vực được giao phụ trách và được cấp có thẩm quyền công nhận,...

Căn cứ những tiêu chí trên để đánh giá cán bộ, công chức theo 4 mức khác nhau là (1) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; (2) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; (3) Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực (đối với cán bộ, công chức); hoàn thành nhiệm vụ (đối với viên chức); (4) Không hoàn thành nhiệm vụ.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, mặc dù việc đánh giá cán bộ công chức diễn ra hàng năm nhưng chưa đem lại hiệu quả. Hệ thống tiêu chí đánh giá mang tính định tính, nên đánh giá đa phần theo cảm tính, không chính xác. Cần phải xây dựng một hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá quá trình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức định lượng, nhằm lượng hóa việc hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ đến mức nào. Chỉ bằng hình thức lượng hóa thì việc đánh giá mới công bằng, hiệu quả, từ đó giúp đánh giá phân loại nhân sự trong tổ chức bộ máy nhà nước, đưa ra kế hoạch sử dụng nhân sự hiệu quả.

Lịch sử Việt Nam trải qua hàng ngàn năm với nhiều cuộc cải cách tiêu biểu. Mỗi cuộc cải cách trong lịch sử để lại một bài học quý báu cho công cuộc đổi mới và cải cách ở nước ta giai đoạn hiện nay. Cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông nói chung và chế độ khảo thí, khảo khóa dưới thời ông nói riêng là một bài học kinh nghiệm đắt giá, không chỉ đối với các triều đại lịch sử sau thời Lê sơ mà còn có giá trị cho đến ngày nay. Trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, có thể vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm từ thời vua Lê Thánh Tông. Từ đó, cải cách nền hành chính nhà nước nhanh chóng, góp phần xây dựng nước nhà vững mạnh, phát triển.

----------------------------------------------------

(1, 3) Nguyễn Thị Thu Hòa, Luận án Tiến Sĩ: Chế độ quan lại triều Lê sơ (1428 - 1527) và những giá trị tham khảo cho cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay, tr.83, tr.87.

(2, 6) Bùi Huy Khiên, Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh, NXB Lao động, 2011, tr.67.

(4, 5, 7) Văn Tạo, Sử học và hiện thực, Tập 2: 10 cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 2000, tr.158, tr.159.

(Học viên cao học Quản lý công - Học viện Hành chính Quốc gia)

In bản tin

Các bài cũ hơn: