Khoahocthoidai.vn

Hồ Chí Minh và minh triết về nước

11:09 | 11/01/2019

Hồ Chí Minh và minh triết về nước
Vượt trên tất cả những định nghĩa, xác lập vị trí của nước với những quan niệm hiện đại mà thế giới đang diễn đạt hôm nay, Hồ Chí Minh đặt nước ở vị trí thiêng liêng, cội nguồn của sự sống con người, sự tồn vong của mỗi dân tộc: có Đất và có Nước mới thành Tổ quốc. Cái vị trí tột đỉnh ấy không thể thay thế, không thể đánh đổi bởi đó là nguồn cội của sự sống, chẳng thế mà các nhà thám hiểm vũ trụ chỉ mong tìm thấy dấu hiệu của nước trên bất cứ hành tinh nào thì hi vọng sự sống sẽ xuất hiện ở đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hơn nửa thế kỉ trước đây, ngày 17/9/1959, tại Hội nghị Thủy Lợi toàn miền Bắc, Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau, để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”. (Trích lời kêu gọi của Hồ chủ tịch, NXB Sự Thật Hà Nội, 1960, tập 5 tr 261, 262).

Lời dạy đó được ghi ở tất cả các nơi trang trọng nhất từ Trung ương đến địa phương của ngành thủy lợi, xem như một lời hiệu triệu để cố gắng trong hành động của mình; và ngày càng nhận rõ ý nghĩa minh triết sâu xa của Người về nước - tài nguyên vô giá quyết định sự sống, sự phát triển của nhân loại.

Điều kì lạ là minh triết đó đã vượt xa tầm suy nghĩ của thời đại mà mãi đến thập kỉ 90 của thế kỉ trước, thế giới mới ngày càng nhận rõ hơn vai trò vị trí của nước, các hội nghị nguyên thủ quốc gia về nước năm 1992 tại Riode Janeiro đề ra bốn nguyên tắc Dublin, năm 2002 ở Johannesburg đặt nước lên hàng đầu trên năm ưu tiên: Nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp, và đa dạng sinh học. Bên cạnh đó các diễn đàn về nước liên tiếp mở ra ở Mara Kech (Ma-rốc - 1997), Hague (Hà Lan - 2000), Kyoto (Nhật Bản - 2003) với quy mô ngày càng lớn.

Nhân loại nhận thức rằng những thách thức mà các quốc gia đang phải đối mặt vì sự phát triển kinh tế xã hội và con người đều liên quan đến nguồn nước. Thiếu nước, suy thoái chất lượng nước, biến đổi khí hậu và môi trường, thể chế quản lí, an ninh lương thực, chống đói nghèo… là những vấn đề cần có sự quan tâm cấp bách và hành động cụ thể. Người ta cũng nhận ra rằng nước là vấn đề mang tính toàn cầu nhưng lại không thể xây dựng một kế hoạch chung mà phải được triển khai theo từng quốc gia và khu vực.

Minh triết Hồ Chí Minh về nước được đặt ra đúng tầm lớn lao quan trọng về nước, các vấn đề được giải quyết và phương pháp thực hiện trên cơ sở hài hòa bền vững giữa phát triển và thiên nhiên để đem lại lợi ích cho con người, cho nhân dân, cho sự công bằng xã hội.

Không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên, ý nghĩa của ngôn từ Tổ quốc và Đất nước mà đó chính là cái gốc rễ của hồn minh triết Việt thấm đẫm trong tư tưởng của Người.

Vượt trên tất cả những định nghĩa, xác lập vị trí của nước với những quan niệm hiện đại mà thế giới đang diễn đạt hôm nay, Hồ Chí Minh đặt nước ở vị trí thiêng liêng, cội nguồn của sự sống con người, sự tồn vong của mỗi dân tộc: có Đất và có Nước mới thành Tổ quốc. Cái vị trí tột đỉnh ấy không thể thay thế, không thể đánh đổi bởi đó là nguồn cội của sự sống, chẳng thế mà các nhà thám hiểm vũ trụ chỉ mong tìm thấy dấu hiệu của nước trên bất cứ hành tinh nào thì hi vọng sự sống sẽ xuất hiện ở đó.

Người luôn đặt sự vật trong bàn tay vận động của mỗi con người, của dân tộc: có Đất lại có Nước thì dân giàu nước mạnh. Nước trở thành nhân tố quyết định sự phát triển bền vững sống còn của mỗi dân tộc. Ở Người, mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người là sự vận động biện chứng tìm đến sự hòa hợp để phát triển trong thể thống nhất và bền vững. Đó chính là sự khởi nguồn cho ngày nay chúng ta đang bàn tới, đang định nghĩa về quản lí tổng hợp tài nguyên nước.

Người nhìn sâu xa hai thuộc tính đối nghịch của nước: “Nước có thể làm lợi nhưng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán”. Bộ đôi song sinh thiên tai (lũ lụt, hạn hán) và lợi ích do nước đem lại theo một chu trình thủy văn, chu trình đó lại thay đổi tích cực hoặc tiêu cực theo tác động của con người mà đến nay ta càng nhìn rõ ở tác động của biến đổi khí hậu đang diễn ra có xu thế ngày càng cực đoan, quyết liệt hơn.

Từ tầm nhìn vị trí thiêng liêng không thể thay thế của nước đến tính hai mặt của nước để đi đến cái cần thiết nhất, cái quyết định nhất: “Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau, để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đến đây thì minh triết của Người về nước đạt đến sự hoàn mỹ tài tình.

Vào những năm đầu của thế kỉ 21 này, thế giới quy tập một đội ngũ chuyên gia tài ba để định nghĩa tổng hợp tài nguyên nước, có nghĩa là tìm đến cách tiếp cận sử dụng nước hiệu quả nhất như sau: “Quản lí tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh, phối hợp phát triển và quản lí nguồn nước, đất đai và tài nguyên liên quan để tối đa hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu”.

Với Hồ Chí Minh là “làm cho đất với nước điều hòa với nhau” có lẽ bắt nguồn từ triết lí cân bằng âm dương của phương Đông. Không thể tìm được ý tưởng nào chuẩn xác hơn, phổ quát hơn, khoa học hơn, bền vững hơn, biện chứng hơn và không ngừng phát triển để đạt tới mục tiêu nhân văn hơn bằng triết lí “điều hòa”. Bởi đó là minh triết con người biết hòa hợp, khéo léo hòa thuận với tự nhiên để tìm đến cái tối ưu, cái mục đích đạt tới, biết sự vận động trong phát triển không ngừng, biết tìm đến sự hợp lí và công bằng.

Sự điều hòa đó không có điểm dừng mà vận động trong sự phát triển không ngừng, mỗi bước phát triển có bước thích ứng phù hợp ngày càng nâng cao bền vững hơn và như vậy lợi ích của các nhân tố tồn tại trên mặt đất phải được phối hợp một cách công bằng và hợp lí hơn.

Mục tiêu đạt được phải là nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không giải quyết được nâng cao đời sống của nhân dân thì mọi cái đều trở nên vô nghĩa.

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta là lịch sử phát triển điều hòa giữa đất và nước. Hệ thống đê điều đồng bằng sông Hồng từ buổi khởi đầu cho đến ngày nay tồn tại đã một nghìn năm là từng bước tìm sự điều hòa giữa đất và nước trong tương quan phát triển kinh tế xã hội. Ban đầu có lẽ là khoanh vùng nhỏ, lợi dụng mặt đất cao thấp để có thể sản xuất trong những điều kiện lũ lụt bình thường; xã hội phát triển, dân số một ngày tăng lên, hệ thống đê phải nối liền rồi độ cao từng bước nâng lên để có thể sản xuất bền  vững  hơn: vụ chiêm không khê, vụ mùa không úng. Cứ thế nâng dần đến ngày nay không những chống được lũ lớn mà còn đưa nước sông vào tưới tiêu, đảm bảo ăn chắc hai vụ. Bài học điều hòa giữa đất và nước trong một nghìn năm qua để tồn tại và phát triển cho ta hiểu sâu sắc hơn tầm vóc minh triết về nước của Hồ Chí Minh.

Ngày nay vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long đạt tới sản lượng trên 20 triệu tấn vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo. Mấy ai biết được đó là thành quả của việc điều hòa giữa đất và nước. Với 1,7 triệu hécta ngập lụt và chua phèn, gần 1 triệu hécta nhiễm mặn mà theo các chuyên gia nước ngoài phải có những công trình cải tạo đất đồ sộ trong hàng thập kỉ mới phát triển được. Thế nhưng chúng ta hiểu được quy luật của nước hiểu được bản chất của đất và của nước để tìm tới giải pháp thủy lợi tiêu chua, đẩy phèn, xổ phèn, ém phèn bằng một hệ thống kênh rạch đưa nước vào đồng và tiêu thoát, hệ thống bờ bao ngăn lũ sớm và kiểm soát lũ, hệ thống cửa van tự động ở vùng mặn đã tạo nên một môi trường nước điều hòa với đất phèn và mặn tạo cơ sở vững chắc phát triển hai vụ lúa thâm canh ngay cả ở vùng ngập sâu và vùng mặn khó khăn nhất.

Khi nào sự điều hòa đó không được vận hành nhuần nhuyễn thì lập tức hậu quả tiêu cực phải gánh chịu ngay. Mấy năm nay vận hành hệ thống thủy điện đã bộc lộ rõ điều đó: sông Hồng dẫn đến cạn kiệt khó tin và mấy ai đo đếm được lợi nhuận mà ngành điện đem lại khi vận hành không phù hợp với sự điều hòa, không đặt mình trong sự điều hòa chung để so với những biến đổi môi trường sinh thái trên toàn bộ hệ thống sông Hồng khi mà hệ thống đê điều thủy lợi trị giá hàng chục tỷ đôla đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ, rối loạn và đàn cá mòi không còn ngược dòng sông Hồng trong mùa sinh sản hàng năm sẽ tác động đến ngư dân trên biển như thế nào? Tình hình đó cũng đang diễn ra ở miền núi, Tây Nguyên, miền Trung Đông Nam Bộ.

Minh triết điều hòa giữa đất và nước để nâng cao đời sống của nhân dân cho chúng ta sự tỉnh táo để xem xét lại toàn bộ quá trình điều hành quản lí nước nhằm tới sự công bằng và nâng cao đời sống của nhân dân.

Tôi cứ suy nghĩ mãi có lẽ tình yêu đất nước (Tổ quốc) đến độ nung nấu khôn nguôi mới đưa Hồ Chí Minh đến minh triết về nước một cách hoàn hảo và biện chứng như vậy.

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: