Khoahocthoidai.vn

Giáo dục và tự do học thuật

09:11 | 14/11/2017

Giáo dục và tự do học thuật
Việt Nam hiện nay có hơn 315 Trường Đại học và Cao đẳng, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có một nền Đại học thực thụ.

Nền giáo dục Đại học của chúng ta ngày càng lạc hậu, đặc biệt là việc chạy theo số lượng chưa chú trọng nhiều đếu chiều sâu và đầu ra cho nguồn nhân lực cho đất nước. Điều này thể hiện ở nhiều bình diện khác nhau, gồm khả năng nghiên cứu khoa học, tài trợ nghiên cứu khoa học của Nhà nước, môi trường trao đổi và hợp tác, số môn học và số giờ lên lớp. Với hơn 95 triệu dân, đây là một cơ hội và thời kỳ vàng để nước ta nhìn nhận và đầu tư đúng mực cho giáo dục Đại học trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, bên cạnh năng suất và thể chế, giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng là một nền tảng quan trọng không thể thiếu cho phát triển kinh tế toàn diện.

Tự do học thuật

Không giống như giáo dục ở bậc phổ thông, mục tiêu của giáo dục Đại học không dừng lại ở việc truyền tải tri thức có sẵn mà quan trọng hơn là đi tìm chân lý thông qua việc phát triển tri thức mới. Để hiện thực hóa những mục tiêu này, cần có sự đề cao đến vai trò của tự do học thuật, đó là "sự tự do của người dạy và người học trong việc dạy, học, tìm hiểu kiến thức và nghiên cứu mà không có sự can thiệp hay giới hạn vô lý của pháp luật, nội quy hay áp lực công cộng". (Theo Bách khoa toàn thư Britannica)

Mục tiêu của tự do học thuật sẽ không được bộc lộ rõ nét trong môi trường mà các vấn đề về học thuật đều bị chính trị hóa và hành chính hóa ở mức cao. Đặc biệt là nguồn chi ngân sách cho công tác giáo dục Đại học bị phân bổ không đồng đều, thiếu chuẩn mực hay giảng viên và học viên bị kỷ luật khi diễn đạt những quan điểm, ngôn luận không chính thống. Tất cả những vấn đề đó cần được cải thiện để hướng đến một nền tự do học thuật, giúp kích thích tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đại học, tạo tiền đề cho những thành tựu trong thực tiễn phát triển đất nước.

Tự do học thuật, trách nhiệm học thuật và dấu ấn Nhà nước

Cũng như quyền tự do khác, tự do học thuật luôn đi đôi với trách nhiệm học thuật, trong đó quan trọng nhất là sự khách quan và trung thành với chân lý, sự tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức và chuyên môn, sự tôn trọng quyền tự do học thuật của những thành viên khác trong cộng đồng học thuật và đối xử công bằng với các quan điểm học thuật khác biệt.

Việc thực hiện quyền tự do học thuật phụ thuộc rất nhiều vào ý chí và chính sách, định hướng giáo dục của đất nước.

Những quốc gia không có tự do học thuật thường trị vì đất nước đó bằng cách gieo rắc nỗi sợ hãi trong xã hội và giới hàn lâm. Điều này sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế, gây bất ổn về chính trị và không huy động được sức mạnh của giới trí thức.

Ngày nay, những đất nước phát triển, tiến bộ, ở đó quyền tự do học thuật được nhà nước bảo vệ vì nó được coi là nền tảng thiết yếu để phát triển tri thức và phụng sự xã hội, và đó cũng là nền tảng quan trọng để tiến tới quyền dân chủ và văn minh. Ở các nước này, chính quyền kiềm chế can thiệp vào quyền tự chủ Đại học và tự do học thuật, vì họ biết rằng tri thức là nền tảng của sức mạnh quốc gia, đồng thời họ có niềm tin vào bản chất lành mạnh, năng lực tự quản và tự sửa sai từ cộng đồng học thuật.

Ở Việt Nam tự do học thuật có được coi trọng?

Ở Việt Nam hiện có nhiều vấn đề nhức nhối đối với tự do học thuật. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất lý giải cho sự lạc hậu của nền đào tạo Đại học ở nước ta, đặc biệt là của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Một hệ quả là các ngành này không đáp ứng được nhu cầu phát triển chung của đất nước cũng như nhu cầu của bản thân hệ thống chính trị và Nhà nước.

Từ bên trong cốt lõi của ngành giáo dục Việt Nam cũng ít coi trọng tự do học thuật. Nếu như trước đây, mục đích chủ yếu của việc đi học là để đỗ đạt ra làm quan, trở thành tôi trung, thì hiện nay mục đích chủ yếu của việc học Đại học là có tấm bằng để tìm việc làm. Những giảng viên mà mối quan tâm hàng đầu chỉ là giữ được chỗ làm và thăng quan tiến chức thì cũng chẳng cần tự do học thuật. Với các trường Đại học tư thục, mà ở Việt Nam vốn được tổ chức và quản trị như những công ty cổ phần thì luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận, chứ không phải tự do học thuật, trở thành mục tiêu hàng đầu.

Chương trình đào tạo Đại học hiện nay còn nhiều gò bó. Trong một thời gian dài, các yêu cầu bắt buộc về đào tạo chính trị, việc áp đặt chương trình khung cùng với thủ tục xin phép mở ngành mới phiền phức khiến cho các trường Đại học trên thực tế không có nhiều “ tự do” trong việc thiết kế chương trình và nội dung đào tạo.

Nguồn tài chính trang trải cho đào tạo Đại học vốn đã eo hẹp nên phần dành cho tự do học thuật càng ít ỏi và èo uột. Vì hầu hết các trường Đại học phụ thuộc vào chỉ tiêu tuyển sinh để cải thiện thu nhập nên sinh ra động cơ tuân thủ thay vì đổi mới. Hơn nữa, với nguồn tài chính hạn chế, các trường Đại học tại Việt Nam khó tuyển được những giảng viên và nhà quản lý Đại học xuất sắc nhất - những người quyết định chất lượng dạy và học của trường Đại học. Việc thiếu vắng tài năng vừa kìm hãm sinh khí của các trường Đại học vừa hạn chế nhu cầu và khả năng theo đuổi tự do học thuật của các trường Đại học tại Việt Nam.

Đổi mới giáo dục đào tạo và sự cần thiết của tự do học thuật

Nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải thực sự tôn trọng tự do học thuật, không chỉ để giúp nền kinh tế trở nên năng động, sáng tạo, có năng lực cạnh tranh hơn trong nền kinh tế trí thức toàn cầu ngày nay mà còn tạo ra nền tảng và sinh lực trí tuệ vững chắc giúp bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia.

Tự do học thuật cần được đảm bảo mạnh mẽ nhất ở giáo dục Đại học. Các trường Đại học, dù là công hay tư, chỉ có thể chen chân vào các thứ hạng cao ở các bảng xếp hạng, nếu được tự chủ thực sự về nhiều mặt. Để làm được điều này, cần đến những yếu tố quan trọng của tự chủ Đại học, đó là sự tự chủ trong việc dạy và học, nghiên cứu và truyền bá tri thức.

Mọi chỉ số của nền giáo dục Đại học Việt Nam đều kém khá xa so với Thái Lan, Malaysia chứ chưa nói đến các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến khác như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ... Vì lẽ đó, cần có sự chung tay của các cơ quan chuyên trách và cộng đồng giáo dục và cả sinh viên trong công cuộc cải cách giáo dục Đại học để hướng đến một nền giáo dục Đại học hoàn chỉnh, chuyên nghiệp, đạt chất lượng cao, ưu tiên tỷ trọng kỹ năng thực hành hơn lý thuyết để chất lượng giáo dục Đại học đáp ứng được nhu cầu xã hội trong hội nhập toàn cầu. 

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: