Khoahocthoidai.vn

Cụ Phan Bội Châu và gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh

14:52 | 16/05/2018

Cụ Phan Bội Châu và gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh
Phan Bội Châu sinh năm Đinh Dậu (1867), quê làng Đan Nhiệm, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An),
khi còn nhỏ có tên là Phan Sào Nam. Phan Bội Châu sớm nổi tiếng là “thần
đồng”.

Quê cụ Phan Bội Châu cách quê Chủ tịch Hồ Chí Minh một cánh đồng.
Thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là cụ Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm Nhâm
Tuất (1863), hơn cụ Phan Bội Châu 4 tuổi. Nguyễn Sinh Sắc học giỏi nổi tiếng
cũng được mệnh danh là “thần đồng”.
Nhân dân Nam Đàn cảm phục và đưa tên hai người vào danh sách “tứ hổ
Nam Đàn”:
“Uyên bác bất như San
Thông minh bất như Sắc.
Tài hoa bất như Quý
Cường ký bất như Lương”.
Năm Canh Tý (1900), Phan Bội Châu đậu Giải nguyên ở trường Nghệ và
năm Tân Sửu (1901), Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng.
Theo giai thoại, Phan Bội Châu và Nguyễn Sinh Sắc thường đi hát phường
vải. Có lần, bốn chàng trai trong “tứ hổ Nam Đàn” đi hát phường vải, đã mở đầu
buổi sinh hoạt bằng những câu hát chào, hát mừng, hát hỏi. Bên phưòng con gái
đã mạnh dạn hỏi:
Nam Đàn tứ hổ là ai ?
Nói cho em biết để mai em chào.
Phan Bội Châu đã hóm hỉnh hát đáp:
Nam Đàn tứ hổ là đây
Sắc, San, Lương, Quý một bầy bốn anh.
Năm 1925, cụ Phan đang hoạt động ở Trung Quốc, bị thực dân Pháp bắt
cóc, đưa về giam lỏng ở dốc Bến Ngự, Huế, đã nhiều lần nhận được thư và tiền
của cụ Nguyễn Sinh Sắc, lúc đó đang làm nghề bốc thuốc cứu dân ở các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long gửi ra giúp đỡ.
Tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1929), được tin cụ Nguyễn Sinh Sắc từ trần, cụ
Phan đã làm câu đối viếng, một vế như sau:
Trùng tuyền hạ, đối án hàn huyên, cầm sắt hữu thanh giai quốc thảo.
(Nghĩa là: Dưới suối vàng cùng nhau trò chuyện tình bạn sắt son đều vì
việc nước).
Sau khi cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Huế làm quan, Nguyễn Thị Thanh và
Nguyễn Sinh Khiêm, chị và anh của Nguyễn Sinh Cung đi theo tiếng gọi của
Phan Bội Châu, tham gia tổ chức đánh Pháp do Đội Quyên – Đội Phấn cầm đầu
dưới ngọn cờ yêu nước của Phan Bội Châu, có căn cứ chống Pháp ở Bồ Lư thuộc
huyện Thanh Chương và Đông Hồ thuộc huyện Tân Kỳ (Nghệ An).

2

Cô Nguyễn Thị Thanh bị thực dân Pháp bắt, xử phạt đánh 100 trượng, tù
khổ sai 9 năm, đày cách quê hương 300 dặm. Ngày 2-12- 1918, chúng đưa cô
Thanh vào giam tại nhà lao Quảng Ngãi. Năm 1922, chúng chuyển cô ra Huế và
giam lỏng ở đây cho đến tháng 9-1940.
Năm 1926, cô Thanh đến thăm cụ Phan Bội Châu tại ngôi nhà tranh ở dốc
Bến Ngự, Huế. Sau 20 năm xa cách, Cô Thanh thấy Phan Bội Châu già yếu đi,
ứng khẩu đọc hai câu thơ:
Tây phong nhất dạ linh nhân lão
Điều tận châu nhan, bạch tận đầu.
(Nghĩa là: Ngọn gió tây thổi một đêm làm người ta già đi, tàn cả dung
nhan).
Nguyễn Sinh Khiêm chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu ra sức hoạt
động tài chính, ủng hộ nghĩa quân của Đội Quyên – Đội Phấn. Ngày 1-4- 1914,
Nguyễn Sinh Khiệm bị Pháp bắt, giam tại nhà lao Vinh và bị kết án 3 năm tù khổ
sai.
11 tuổi, người con thứ ba Nguyễn Sinh Cung theo cha về sống ở quê nội
Kim Liên. Một đêm, cụ Phan Bội Chậu đang đàm đạo với cụ Nguyễn Sinh Sắc,
Nguyễn Sinh Cung đứng bên cạnh giúp cha tiếp khách. Nhân thấy trăng lên sáng
đẹp, cụ Phan Bội Châu liền ra cho Nguyễn Sinh Cung câu đối:
Nguyệt thượng bạch (nghĩa là mặt trăng lên sáng trong).
Nguyễn Sinh Cung ứng khẩu đối ngay:
Nhật xuất hồng (nghĩa là mặt trời mọc đỏ chói).
Chiều Mồng hai Tết Ất Tỵ (1905), cụ Phan Bội Châu đến thăm Phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc. Nguyễn Sinh Cung vinh dự lúc này được hầu trà nước cho
khách. Sau chén rượu đầu xuân, cụ Nguyễn Sinh Sắc hỏi thăm công việc sắp tới
của bạn. Cụ Phan Bội Châu trả lời với ý giải bày:
- Tiết hậu đăng trình, lao cán thiên trùng, vọng hoàn thanh viện (Sau Tết
sẽ lên đường, công lao muôn vàn vất vả, chỉ mong trả được cái công viện trợ của
ngoại bang).
Trong khi cha vừa suy nghĩ, vừa chuẩn bị trầu để mời khách, Nguyễn Sinh
Cung ứng khẩu đối lại:
- Đông tiền thượng lộ, tri khu vạn lý, cầu đạt thanh thư (Trước mùa đông
này, sẽ ra đi, bước đường muôn dặm ruổi rong, chỉ mong gặp sách kế đúng).
Đây là vế đối, lời rất chỉnh, ý rất sáng và thể hiện một hoài bão lớn.
Cụ Phan Bội Châu tắm tắc khen ngợi, cho Nguyễn Sinh Cung là một cậu
bé thông minh, có khẩu khí anh hùng, nếu biết rèn luyện thì sau này sẽ làm nên
đại sự cho đất nước.
Trong cuộc đời hoạt động cứu nước của mình, khi cách mạng gặp khó
khăn, cụ Phan Bội Châu liền nhớ lại vế đối của Nguyễn Sinh Cung.
Thượng tuần tháng 7 năm Ất Tỵ (1905), cụ Phan Bội Chậu từ Nhật bí mật
về Nghệ Tĩnh bàn kế hoạch đưa học sinh xuất dương du học, trong đó, cụ Phan
dự định đưa sang Nhật lần này chắc chắn có tên Nguyễn Sinh Cung. Nhưng

3

Nguyễn Sinh Cung từ chối con đường Đông Du của Phan Bội Châu mà quyết
tâm đi sang các nước Tây Âu, tiếp thu tư tưởng, lý luận tiên tiến của thời đại.
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô trở về Trung Quốc mở lớp học
đào tạo cán bộ cốt cán chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc này, cụ
Phan Bội Châu tiếp xúc với Người qua trung gian cụ Hồ Tùng Mậu tại Quảng
Châu. Cụ Phan rất ngưỡng mộ Người, tiếp thu sự góp ý của Người để chuẩn bị
cải tổ Đảng Việt Nam Quốc dân. Hai người Việt Nam đồng hương, hai thế hệ, rời
xứ sở trong thời điểm khác nhau, đi hai con đường khác nhau và đã gặp nhau ở
con đường Nguyễn Ái Quốc đã chọn. Cụ Phan Bội Châu đã giới thiệu 10 thanh
niên An Nam vẫn hoạt động với Cụ bấy lâu nay, trong đó có Lê Hồng Sơn, Hồ
Tùng Mậu, Lê Hồng Phong …để Nguyễn Ái Quốc gặp gỡ và huấn luyện họ đi
theo con đường của Người.
Trong Thư gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản, ngày 18-12- 1924, Người
viết: “Trong các cuộc thảo luận, tôi (Nguyễn Ái Quốc) đã giải thích cho ông ta
(Phan Bội Châu) hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động
không cơ sở. Ông ta đã đồng ý.” (1)
Trong cuốn “Tự phê phán”, Cụ Phan Bội Châu viết: “Năm 1924, ở Trung
Quốc, cụ cải tổ lại Việt Nam Quang phục hội. Sau khi cương lĩnh và chương
trình của tổ chức chính trị mới được công bố, ông Nguyễn Ái Quốc ở thủ đô Nga
là Mạc Tư Khoa về Quảng Đông, thường thường bàn với tôi nên sửa đổi lại”.
Năm 1925 – 1926, khi Cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp quản thúc tại
Huế, có lần một số thanh niên yêu nước hỏi Cụ: “Bây giờ cụ về nước thì ở nước
ngoài còn ai có thể dẫn dắt đồng bào?” Cụ trả lời: “Ở nước ngoài, vẫn còn
Nguyễn Ái Quốc. Ông Nguyễn Ái Quốc hơn tôi. Ông ta sẽ làm được việc đó”.
Một chính khách hỏi đến câu sấm: “Đụn sơn phân giải, Bồ Đái thất thanh, Nam
Đàn sinh thánh”. Nhà chí sĩ nổi tiếng Phan Bội Châu liền trả lời: “Thánh ở đây là
Nguyễn Ái Quốc, con người sẽ đem lại nền tự do thực sự cho dân tộc”.
Năm 1929, trong hồi ký Phan Bội Châu niên biểu, nhiều lần cụ đã trân
trọng nhắc đến Nguyễn Ái Quốc. Cụ đã khuyên những thanh niên có tâm huyết
với vận mệnh đất nước lúc ấy không nên theo cụ nữa mà nên theo ông Nguyễn
Ái Quốc để hoạt động cứu nước.
Thừa nhận cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đã không thành công,
và cho rằng, vai trò lịch sử của thế hệ cùng thời đã hết, cụ Phan Bội Châu gửi
gắm tất cả niềm tin giải phóng dân tộc vào Nguyễn Ái Quốc và thế hệ mới.

(1) Hồ Chí Minh Toàn tập – NXB CTQG – H – 1995 – T I – TR 8.

4

Nguồn tư liệu:
- Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – số 80, tháng 10-2000
- trang 20 -21 và 22.
- Báo Quân đội nhân dân, số 10052, ngày 19-5- 1989.
- Hồi ký của Tôn Quang Phiệt và Nguyễn Đức Vân.
- Đào Duy Anh: Một số hồi ức chưa được công bố về Phan Bội Châu, Ông già
Bến Ngự - NXB Thuận Hóa (Huế) 1982.

          ---------------------------------------------------------------------------------------------------

Hồ Chí Minh Toàn tập – NXB CTQG – H – 1995 – T I – TR 8.4

Nguồn tư liệu:
- Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – số 80, tháng 10-2000
- trang 20 -21 và 22.
- Báo Quân đội nhân dân, số 10052, ngày 19-5- 1989.
- Hồi ký của Tôn Quang Phiệt và Nguyễn Đức Vân.
- Đào Duy Anh: Một số hồi ức chưa được công bố về Phan Bội Châu, Ông già
Bến Ngự - NXB Thuận Hóa (Huế) 1982.

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: