Khoahocthoidai.vn

Các nguyên tắc phản biện xã hội

14:24 | 26/06/2014

Các nguyên tắc phản biện xã hội
Phản biện xã hội (PBXH) vốn là chức năng của Xã hội Dân sự (Civil Society), là sự tham gia đóng góp ý kiến của các tổ chức Xã hội Dân sự (XHDS - tức là các tổ chức không phải chính quyền, doanh nghiệp và gia đình) cho một chủ trương, chính sách nào đó của Nhà nước (Chính phủ, Bộ/Ngành hay Tỉnh/Thành phố), cho một chương trình hay dự án phát triển. PBXH là một kênh thông tin hữu ích giúp các cơ quan quản lý nghe tiếng nói có trách nhiệm của công dân nhằm làm cho chủ trương, chính sách, chương trình hay dự án ngày càng hoàn thiện trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận nhằm phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh (1).

Thực tế cho thấy đã có không ít chương trình hay dự án phát triển thất bại do thiếu PBXH, vì chúng được dựng lên chỉ căn cứ vào ý muốn chủ quan của cơ quan ban hành.
Phản biện xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ được Chính phủ giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và các Hội thành viên theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 01 năm 2002.

Tuân thủ pháp luật

PBXH là một hoạt động khoa học - chính trị - xã hội có tác động xã hội rộng rãi, vì thế nguyên tắc hàng đầu của PBXH là phải tuân thủ luật pháp. Luật pháp cho phép đến đâu thì PBXH làm đến đấy. Cần nhận rõ rằng không phải kiến nghị nào của văn kiện PBXH cũng đều có sức thuyết phục cao và đều được các cấp thẩm quyền thực hiện, nhưng dù chất lượng thế nào, các kiến nghị đó cũng phải được xây dựng trên cơ sở tuân thủ luật pháp. Vì vậy các tổ chức XHDS khi tiến hành PBXH cần nắm thật chắc luật và các văn bản dưới luật liên quan, và phải tác nghiệp theo quy định của các văn bản đó.

Cần lưu ý rằng không ít văn bản pháp luật tại thời điểm tiến hành PBXH có thể đã hết hiệu lực và được thay bằng văn bản mới, điều này đòi hỏi tác nghiệp PBXH phải đi đôi với cập nhật cơ sở pháp lý. Rất có thể qua PBXH sẽ nhận ra việc một vài văn bản pháp luật còn thiếu một số điều khoản cần thiết, hoặc có những điều khoản chưa hợp lý. Thậm chí không ít trường hợp thông qua PBXH còn có thể phát hiện sự chồng chéo hoặc không tương thích giữa các văn bản luật và dưới luật. Ví dụ những quy định khác nhau về Bảo tồn Đa dạng Sinh học được quy định trong luật Đa dạng Sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng hay Luật Thủy sản, cũng như các văn bản dưới các bộ luật này... Những phát hiện này cũng là một thành công của PBXH và cần được đưa vào kiến nghị, nhưng những kiến nghị chuyên môn khác vẫn phải thực hiện theo những quy định của văn bản pháp luật hiện hành, hoặc các vấn đề mà pháp luật không cấm.

Cơ chế dân chủ hiện nay cho phép công dân và tổ chức XHDS bày tỏ ý kiến hoặc bảo lưu ý kiến của mình, nhưng không được lạm dụng quyền đó để ép các nhà ra quyết định phải thực hiện các kiến nghị của văn kiện PBXH do mình làm ra, vì việc này có thể dẫn tới xung đột xã hội không đáng có và trước hết làm giảm uy tín của chính tổ chức thực hiện PBXH.

Có cơ sở khoa học

Bản chất và cốt lõi của PBXH là phản biện Khoa học. Những lý lẽ trong văn kiện PBXH sẽ không có sức thuyết phục nếu chúng không được xây dựng trên một căn bản khoa học chắc chắn. Vì vậy những ý kiến kiểu “chúng tôi cho rằng...”, “có lẽ là...”, “dự báo là...” chỉ có thể là đề tài của những nghiên cứu tiếp trong tương lai để khẳng định hay bác bỏ mà không đưa vào văn kiện PBXH. Chỉ những kiến nghị dựa trên nền tảng khoa học chắc chắn mới được đưa vào văn kiện PBXH.

Phát triển là lĩnh vực liên ngành, vì vậy mà ngay khi cơ sở khoa học do chuyên ngành nào đó cung cấp có vẻ đúng thì rất có thể chuyên ngành khác lại bác bỏ. Vì vậy cần dựa trên nền tảng quy định về phát triển bền vững - đây là lĩnh vực liên ngành đã được quy định rõ trong Chiến lược phát triển bền vững do Chính phủ ban hành. Vì thế PBXH cần có sự tham gia rộng rãi của các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành liên quan đến vấn đề được phản biện. Khi tham gia phản biện, các chuyên gia khoa học cũng cần thận trọng khi phát biểu về những lĩnh vực không phải chuyên môn sâu của mình. Sự “uyên bác” mà chuyên gia nhầm tưởng khi nói về vấn đề không thuộc thế mạnh của mình nhiều trường hợp lại là “sự ngây thơ” trước con mắt của các chuyên gia khác.

Tư duy hệ thống

Phát triển, về bản chất là một hệ thống có sự tham gia của con người và xã hội, gồm nhiều yếu tố cấu trúc liên kết với nhau nhờ tương cầu và tương tác. Đấy luôn là kiểu hệ thống mờ, vì ranh giới, chức năng, mục tiêu, giải pháp,... cũng chưa rõ rệt. Hệ thống có con người tham gia bao giờ cũng đa chiều, ít nhất có 7 chiều đặc trưng và tác động đồng thời là Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, Đạo đức, Thẩm mỹ, Khoa học công nghệ và Môi trường. Một số chiều của hệ có thể dễ dàng nhận diện, số còn lại ẩn tàng trong hệ nên còn được gọi là các chiều ngầm hay chiều ẩn, tạo nên quyền lực ngầm của hệ. Không nhận diện được các chiều ngầm này, các phân tích và những  kỳ vọng cách tân các chương trình hay dự án phát triển đều chắc chắn thất bại.

Những chiều nổi dễ thấy thường là những mặt tích cực mà nhóm xây dựng Chương trình hay Dự án phát triển chỉ rõ, thậm chí còn nói quá lên, còn những chiều ngầm thường khó nhận diện vì khi soạn thảo chưa nhận diện hết hoặc do chính nhóm soạn thảo không tiện nói ra. Những Dự án càng minh bạch thì càng dễ nhận ra các chiều ngầm và ngược lại. PBXH còn đòi hỏi phải phân tích hết các chiều của một Chương trình hay một dự án phát triển không phải để trong Văn kiện cuối cùng làm rõ hết hay để nói hết ra các chiều này, mà để phân tích toàn diện về Chương trình hay Dự án đó, và để xây dựng Văn kiện PBXH hợp lý và có sức thuyết phục.

Phù hợp văn hóa

Những nội dung của PBXH phải phù hợp với văn hóa của cộng đồng, phải qua lăng kính văn hóa của cộng đồng mới có cơ hội được ủng hộ. Dù PBXH không yêu cầu đề cập trực tiếp đến những vấn đề về đa dạng văn hóa, không đòi hỏi nghiên cứu về văn hóa nhưng không thể vì thế mà đi ngược lại truyền thống văn hóa của các cộng đồng chịu tác động của chính PBXH. Nhiều trường hợp văn hóa là vấn đề mà các Chương trình hay Dự án Phát triển bỏ qua nên lại là lý lẽ sắc bén của PBXH. Việt Nam là cộng đồng các dân tộc có nền văn hóa truyền thống và cực kỳ đa dạng, không chỉ đa dạng về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, mà cả về vùng cư trú (cái được gọi là Địa văn hóa). Con người có thể hy sinh mọi thứ trừ văn hóa của họ. Đặc trưng này đòi hỏi các chuyên gia PBXH phải có sự hiểu biết về văn hóa bản địa trước khi có các quyết sách về PBXH.

Cần chú ý nhưng không bị cuốn theo dư luận xã hội

Dư luận xã hội (DLXH) là những ý kiến đánh giá của công chúng về các vấn đề xã hội mà họ quan tâm (2). DLXH là thái độ của các nhóm xã hội thể hiện qua các đánh giá về vấn đề xã hội nào đó dựa trên các chuẩn mực xã hội mà nhóm này thừa nhận. Ý kiến cá nhân sẽ tạo thành một phần của DLXH nếu nó phản ánh cách đánh giá của một nhóm công chúng. Nếu ý kiến cá nhân không đại diện cho ai trừ tác giả thì ý kiến đó không được coi là DLXH mà chỉ được gọi là ý kiến cá nhân. Nếu không đại diện cho nhóm, nhiều ý kiến cá nhân vẫn chỉ là ý kiến cá nhân mà không tạo thành DLXH. Vì vậy DLXH không phải là kết quả cộng cơ học các ý kiến cá nhân (3).

Các ý kiến cá nhân và dư luận xã hội có thể được truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều trường hợp khá nóng. Chuẩn mực xã hội là cơ sở đánh giá và bình luận các vấn đề được phân tích. Các chuẩn mực xã hội không phải bất biến: chúng thay đổi theo thời gian, theo địa phương và theo nhãn quan của các tác giả, chúng có thể đúng hay đã lạc hậu rồi, thậm chí có thể đã sai lầm. Dư luận xã hội nhiều trường hợp được phân tích thiếu cơ sở khoa học chắc chắn mà chỉ phản ánh hiểu biết riêng của một nhóm xã hội. Dư luận xã hội giúp cho các nhà quản lý thấy được dân chúng đang nghĩ gì và đánh giá như thế nào về một vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Nhà quản lý giỏi là người biết cách lắng nghe những ý kiến đa chiều, thậm chí ngược với những cái mình muốn nghe.
Phản biện xã hội khác hẳn dư luận xã hội ở chỗ không phải do cá nhân hay nhóm tác giả phát biểu. Phản biện xã hội được thực hiện bởi các tổ chức xã hội dân sự theo một quy trình chặt chẽ. Hoạt động phản biện xã hội phải dựa trên cơ sở quy định của luật pháp, có cọ xát trao đổi nhiều vòng giữa nhóm chuyên gia làm phản biện mà hội thảo chỉ là công đoạn cuối nhằm góp ý cho văn kiện chính thức, và đặc biệt, phản biện xã hội phải có cơ sở khoa học chắc chắn. Nhiều ý kiến trong dư luận xã hội có trình độ cao, có tâm huyết và có ý thức công dân đã cung cấp những ý tưởng tốt cho phản biện xã hội. Tuy nhiên, cũng có không ít dư luận xã hội và các ý kiến cá nhân dựa trên các chuẩn mực cũ, chuẩn mực lạc hậu, tư duy cục bộ,... đã tạo ra nhiều trường hợp lẫn lộn trắng đen trên thông tin đại chúng.

Chuẩn mực xã hội của phản biện xã hội hiện nay chính là Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững (Chương trình Nghị sự 21 Việt Nam) do Chính phủ ban hành năm 2006. Không dựa chắc trên chuẩn mực đó thì phản biện xã hội về môi trường và phát triển không đáp ứng được yêu cầu. 


PGS.TS Nguyễn Đình Hòe

---------------------
(1) Nguyễn Đình Hòe, 2011. Phản biện xã hội trong bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
(2) Nguyễn Quý Thanh, 2006. Xã hội học về Dư luận Xã hội. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
(3) Nguyễn Quý Thanh, 2006. Tài liệu đã dẫn.

Diễn đàn Trí thức Thủ đô

In bản tin

Các bài mới:

Các bài cũ hơn: